Đánh giá mối liên quan giữa tính nhạy cảm với hành vi hút thuốc ở học sinh một số trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Hà Nội và một số yếu tố liên quan trong năm 2019
Tóm tắt
Mục tiêu nghiên cứu: Hiện nay, tại Việt Nam, mặc dù nhiều chính sách đã được ban hành nhằm giảm thiểu hành vi hút thuốc ở học sinh trung học phổ thông (THPT) nhưng tỉ lệ hiện đang hút thuốc lá ở đối tượng này còn cao. Một trong những yếu tố dự đoán cho việc hút thuốc ở học sinh THPT là tính nhạy cảm với hành vi hút thuốc. Nghiên cứu nhằm mô tả tính nhạy cảm với hành vi hút thuốc ở đối tượng học sinh THPT và xác định các yếu tố liên quan đến tính nhạy cảm ở những đối tượng này.
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện với học sinh tại 14 cơ sở giáo dục hệ THPT trên địa bàn 5 quận/huyện thuộc thành phố Hà Nội được lựa chọn ngẫu nhiên. Bộ câu hỏi được xây dựng dựa trên bộ công cụ Đánh giá hành vi nguy cơ sức khỏe trẻ vị thành niên (Youth Risk Behavior Surveillance System - YRBSS).
Kết quả: Có 3272 học sinh hoàn thành khảo sát và trong đó, 4,9% (KTC 95%: 4,2 – 5,8%) số đối tượng nhạy cảm với hành vi hút thuốc. Các yếu tố có liên quan đến tính nhạy cảm với hành vi hút thuốc lá bao gồm: giới tính nam (OR=2,79, KTC 95%: 2,29 – 3,41), nằm trong độ tuổi từ 16-17 (OR=1,25, KTC 95%: 1,01 – 1,56), học tại các quận nội thành (OR=1,41, KTC 95%: 1,15 – 1,74), nhìn thấy hành vi hút thuốc của: người thân (OR=1,39, KTC 95%: 1,14 – 1,70), thầy cô (OR=1,8, KTC 95%: 1,23 – 2,63), bạn bè (OR=2,33, KTC 95%: 1,88 – 2,89), nhân viên trong trường (OR=1,63, KTC 95%: 1,17 – 2,26); việc tham gia tiết học Phòng chống tác hại (PCTH) thuốc lá (OR=1,31, KTC 95%: 1,06 – 1,62) và nhìn thấy thông điệp PCTH thuốc lá (OR=1,28, KTC 95%: 1,005 – 1,63) là các yếu tố bảo vệ.
Kết luận và khuyến nghị: Cần tăng cường các chương trình can thiệp PCTH thuốc lá và cần tăng cường những biện pháp can thiệp và những chính sách quyết liệt hơn nhằm giảm tính nhạy cảm ở trẻ vị thành niên, từ đó giảm thiểu thực trạng hút thuốc ở những đối tượng này.
Cách trích dẫn
- 1. Bộ Y tế. Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 6-1:2010/BYT đối với nước khoáng thiên nhiên và nước uống đóng chai. Hà Nội; 2010.
- 2. Nguyễn Thị Phương Mai. Đánh giá việc đảm bảo an toàn thực phẩm tại các cơ sở sản xuất nước uống đóng chai trên địa bàn quận Hoàng Mai, Hà Nội năm 2014. Hà Nội. Trường Đại học Y tế công cộng; 2014.
- 3. Quách Vĩnh Thuận. Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến nhiễm vi sinh vật trong nước uống đóng chai tại các cơ sở sản xuất trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng năm 2015 Hà Nội. Trường Đại học Y tế công cộng; 2015.
- 4. Vũ Thị Hường. Đặng Vũ Phương Linh. Tỉ lệ nhiễm vi sinh vật trong nước uống đóng chai trên địa bàn tỉnh Cà Mau năm 2017. Tạp chí Khoa học Nghiên cứu Sức khỏe và Phát triển. 2017;1(1):105-111.
- 5. Lê Thị Kim Huê. Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến an toàn thực phẩm tại các cơ sở sản xuất nước uống đóng chai, tỉnh Phú Yên năm 2016. Trường Đại học Y tế công cộng; 2016.
- 6. Lâm Tấn Toàn. Thực trạng ô nhiễm vi sinh vật của nước uống đóng bình (20 lít) và một số yếu tố liên quan tại Đồng Tháp năm 2016. Trường Đại học Y tế công cộng; 2016.
- 7. Hứa Thủy Ngân. Tỷ lệ nhiễm vi sinh vật trong nước uống đóng chai và các yếu tố liên quan đến vệ sinh an toàn thực phẩm tại các cơ sở sản xuất trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng năm 2014. Trường Đại học Y tế công cộng; 2014.
- 8. Cao Thị Thanh Thúy. Tỉ lệ nhiễm vi sinh vật trong nước uống đóng chai trên địa bàn tỉnh Bến Tre năm 2015. Trường Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh; 2015.
- 9. Kiều Lộc Thịnh. Chất lượng nước uống đóng chai/đóng bình, điều kiện vệ sinh và kiến thức thực hành của các nhân viên tại các cơ sở trên địa bàn tỉnh Kiên Giang năm 2012. Thành phố Hồ Chí Minh. Trường Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh; 2012.
- 10. Dương Thị Hằng Nga. Thực trạng an toàn thực phẩm và chất lượng nước uống đóng chai của cơ sở sản xuất nước uống đóng chai tại tỉnh Hải Dương năm 2014 Trường Đại học Y tế công cộng; 2014.
- 11. Nguyễn Văn Đạt. Thực trạng vệ sinh an toàn thực phẩm của cơ sở sản xuất nước uống đóng chai tại tỉnh Bình Dương năm 2013. Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh. 2013;18(6):552-559.
- 12. Trần Minh Phượng. Thực trạng và một số yêu tố liên quan đến nhiễm vi sinh vật trong nước uống đóng chai tại các cơ sở sản xuất trên địa bàn tỉnh Hưng Yên năm 2018. Trường Đại học Y tế công cộng; 2018. Thân Ngọc Hà và cộng sự
- 107 Tạp chí Khoa học Nghiên cứu Sức khỏe và Phát triển (Tập 04, Số 04-2020) Journal of Health and Development Studies (Vol.04, No.04-2020) Assessment of food safety conditions of bottled drinking establishments in Can Tho city in 2020 Than Ngoc Ha1, Nguyen Thanh Ha2 1Can Tho City Food Safety and Hygiene Department 2 Hanoi University of Public Health Objectives: The main objectives were the evaluation of food safety conditions, the determination of the rate of microbiological contamination in bottled drinking water at Can Tho city in 2020. Methods: Samples were collected from 116 factories with 58 samples of bottled water during a period of time (from February 2020 to May 2020). Results: The ratio that met the criteria for food safety conditions was 44,0% (51/116). The ratio for microbiological contamination was 39,7% (23/58). Conclusions and recommendations: The ratio that met the criteria for food safety conditions is low and the ratio for microbiological contamination is quite high. From the these results, it can be recommended thatirregular inspection of production facilities which have problems of microorganisms should be applied; and the frequency of periodic inspection should increase (e.g. 2 times/year) for factories where do not maintain food safety conditions according to regulations. Keywords: Bottled drinking water, microbiological contamination, food safety. Thân Ngọc Hà và cộng sự