📚 Mục lục — Tập 4 Số 04 (2020): Tập 04, Số 04-2020
Xem Tất cả Các số ›
TẠP CHÍ JHDS 2020
Tạp chí Khoa học Nghiên cứu Sức khỏe và Phát triển
📅 Tập 4 Số 04 (2020): Tập 04, Số 04-2020
ISSN: 2588-1442 (điện tử) · 2588-1442 (in)
Nghiên cứu gốc (Original papers)
Chất lượng dịch vụ Bệnh viện Phụ sản MêKông qua cảm nhận của khách hàng ngoại trú năm 2019

Mục tiêu : Nghiên cứu thực hiện nhằm đánh giá chất lượng dịch vụ Bệnh viện Phụ sản MêKông qua cảm nhận của khách hàng ngoại trú năm 2019 và phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ Bệnh viện. Phương pháp : Nghiên cứu cắt ngang kết hợp định tính và định lượng sử dụng bộ công cụ SERVPERF gồm 22 câuhỏi qua 5 khía cạnh: Tin tưởng, Đáp ứng, Đảm bảo, Cảm thông và yếu tố hữu hình. Kết quả : Kết quả ghi nhận, 96,1% khách hàng đánh giá chất lượng dịch vụ bệnh viện ở mức cao, điểm trung bình chung về chất lượng dịch vụ là 4,34 (± 0,41) so với chuẩn điểm 5. Năng lực chuyên môn của Bệnh viện, chi phí dịch vụ phù hợp là những ảnh hưởng tốt đến chất lượng dịch vụ. Mất cân đối lượng khách hàng giữa các buổi khám là điểm nổi bật làm hạn chế chất lượng dịch vụ. Kết luận : Chất lượng dịch vụ Bệnh viện được đánh giá ở mức cao, tuy nhiên các chính sách thể hiện sự quan tâm khách hàng và cần làm gì để nắm bắt được nhu cầu của họ là vấn đề Bệnh viện cần cải tiến để đáp ứng sự mong đợi ngày càng cao của khách hàng về chất lượng dịch vụ.

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Điều trị nội tiết tố và phẫu thuật chuyển đổi giới tính của người chuyển giới tại Việt Nam

Mục tiêu nghiên cứu : Mô tả thực trạng sử dụng nội tiết tố và phẫu thuật chuyển đổi giới tính của người chuyển giới ở một số tỉnh, thành phố của Việt Nam.  Phương pháp nghiên cứu : Thiết kế cắt ngang mô tả, kết hợp định lượng và định tính. Số liệu định lượng được thu thập qua phỏng vấn trực tiếp sử dụng bảng hỏi với 141 người chuyển giới và số liệu định tính bằng phỏng vấn sâu có ghi âm với 12 người chuyển giới. Nghiên cứu được tiến hành tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Nghệ An và Đà Nẵng, từ tháng 6 - 10/2019. Kết quả : Toàn bộ 141 người tham gia nghiên cứu đều đã sử dụng nội tiết tố (100%) và 32 người đã làm phẫu thuật (23,4%). Hơn 73% mua nội tiết tố từ người đang sử dụng và sử dụng theo cơ chế truyền miệng. Trong số những người đã phẫu thuật, 25% không được khám và và tư vấn trước phẫu thuật, 25% được khám và tư vấn nhưng chưa đầy đủ, 50% không được chăm sóc hậu phẫu và 25% được chăm sóc không đầy đủ. Ba chủ đề được xác định: 1) Mua nội tiết tố “ trôi nổi ” không rõ nguồn gốc và sử dụng theo cách “ truyền miệng ”; 2) Hành trình đau đớn và đầy rủi ro của phẫu thuật và 3) Một cuộc sống khó khăn và tương lai bất định. Kết luận : Đa số người chuyển giới mua và sử dụng nội tiết tố mà không có hướng dẫn chuyên môn. Việc khám, tư vấn và chăm sóc trước và sau phẫu thuật chưa đầy đủ. Nhiều hậu quả xấu đối với sức khỏe có thể nảy sinh. Luật Chuyển đổi giới tính sẽ giúp người chuyển giới tiếp cận các dịch vụ y tế an toàn và chất lượng.

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Sự hài lòng của người chăm sóc bệnh nhi 0-6 tuổi điều trị nội trú với dịch vụ khám chữa bệnh tại Khoa Nhi, bệnh viện Đa khoa Khu vực Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang năm 2020 và một số yếu tố liên quan

Mục tiêu: Mô tả sự hài lòng của người chăm sóc chính bệnh nhân nhi từ 0-6 tuổi và một số yếu tố liên quan tại Khoa Nhi, BV đa khoa khu vực Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang 2020. Phương pháp: Thiết kế nghiên cứu cắt ngang có phân tích, phát vấn điều tra trên 360 người chăm sóc chính bệnh nhi, sử dụng bộ công cụ đo lường sự hài lòng do Bộ Y tế. Kết quả : Sự hài lòng chung của đối tượng là 67,6%, nội dung cơ sở vật chất và phương tiện phục vụ có tỉ lệ hài lòng thấp nhất với 63,2%. Các yếu tố liên quan đến sự hài lòng gồm hoàn cảnh kinh tế; Tình trạng hôn nhân; Độ tuổi; Trình độ học vấn; Sử dụng thẻ BHYT; Số lần KCB trong 12 tháng qua và thời gian nằm viện. Kết luận: Để nâng cao hơn nữa sự hài lòng của người chăm sóc chính, bệnh viện cần nâng cao tinh thần thái độ phục vụ cho tất cả NVYT; Rà soát, duy tu sửa chửa, nâng cấp cơ sở vật chất của Khoa Nhi; nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh BHYT.

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Đánh giá mối liên quan giữa ô nhiễm không khí và sức khỏe tại Việt Nam: Kỹ thuật phân tích chuỗi thời gian

Mục tiêu nghiên cứu: Phân tích chuỗi thời gian được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu dịch tễ học môi trường; đặc biệt trong việc đánh giá tác động tức thời (short-term effect) giữa ô nhiễm không khí bên ngoài và tình trạng sức khoẻ. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu sử dụng số liệu gồm biến phụ thuộc và độc lập được ghi nhận theo ngày (ví dụ như số ca nhập viện hằng ngày và nồng độ chất ô nhiễm hằng ngày), để đánh giá sự thay đổi của biến độc lập lên biến phụ thuộc trong một thời gian ngắn. Kết quả: Trong bài báo này, chúng tôi mô tả các bước thực hiện phân tích chuỗi thời gian và những điểm cần lưu ý khi phân tích mối tác động ngắn hạn giữa ô nhiễm không khí bên ngoài và số ca nhập viện. Nghiên cứu sử dụng số liệu trong nghiên cứu đánh giá tác động của ô nhiễm không khí bên ngoài lên sức khỏe trẻ em để làm ví dụ minh họa. Chúng tôi cũng trình bày các câu lệnh dùng để xây dựng mô hình trên phần mềm R và cách phiên giải số liệu ở dạng cơ bản. Kết luận và khuyến nghị: Cần mô hình hóa tính mùa và tác động dài hạn, mối quan hệ tính tự tương quan và xử lý được các tác động của biến nhiễu. Mô hình này có thể tận dụng được các số liệu ghi nhận hằng ngày để đánh giá những tác động theo thời gian hoặc can thiệp.

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Căng thẳng nghề nghiệp và một số yếu tố ảnh hưởng ở điều dưỡng lâm sàng tại hai bệnh viện Hùng Vương và Từ Dũ đang học liên thông lên đại học năm 2019

Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu thực hiện nhằm mô tả mức độ căng thẳng nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) và một số yếu tố ảnh hưởng năm 2019 tại hai bệnh viện Hùng Vương và Từ Dũ đang học liên thông lên đại học. Phương pháp nghiên cứu: Đây là nghiên cứu cắt ngang phân tích, kết hợp định lượng và định tính, được thực hiện từ tháng 4-8/2019 trên các điều dưỡng lâm sàng của hai bệnh viện Hùng Vương và Từ Dũ đang học liên thông lên đại học tại trường Đại học Nguyễn Tất Thành. Kết quả: Số liệu định lượng thu thập từ bộ câu hỏi phát vấn (tham khảo bộ công cụ Expanded Nursing Stress Scale) với 232 điều dưỡng và được phân tích bằng SPSS 20.0. Thông tin định tính thu thập từ 02 cuộc thảo luận nhóm và được phân tích theo chủ đề. Kết quả cho thấy căng thẳng nghề nghiệp của ĐTNC ở mức trung bình (điểm trung bình chung là 2,14). Có 03 nhóm yếu tố gây căng thẳng nhiều nhất là “đối mặt với cái chết của người bệnh”, “vấn đề liên quan đến gia đình người bệnh”, và “khối lượng công việc”. Nhóm yếu tố ảnh hưởng đến mức độ căng thẳng nghề nghiệp của ĐTNC bao gồm: yếu tố cá nhân, yếu tố gia đình, và yếu tố học tập. Kết luận và khuyến nghị: Khoa/bệnh viện nên có chính sách bảo đảm hài hòa khối lượng công việc để giảm bớt áp lực, đảm bảo điều dưỡng vẫn hoàn thành nhiệm vụ trong quá trình đi học. Ngoài ra, cần thiết có các khóa tập huấn kỹ năng ứng phó với những tình huống liên quan đến người bệnh và người nhà người bệnh.

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Thực trạng hút thuốc lá ở học sinh một số trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Hà Nội và một số yếu tố liên quan năm 2019

Mục tiêu: Tỷ lệ hút thuốc cao ở vị thành niên (VTN) đã trở thành mối lo ngại về sức khỏe cộng đồng trên toàn thế giới và tại Việt Nam. Việc xác định các yếu tố liên quan tới hành vi hút thuốc ở VTN là đặc biệt quan trọng khi độ tuổi hút thuốc ngày càng trẻ hóa. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang phân tích được thực hiện ở học sinh trên 15 trường trung học phổ thông (THPT) tại 5 quận/huyện Hà Nội bằng bộ công cụ đo lường giám sát hành vi nguy cơ với sức khỏe vị thành niên (YRBSS). Kết quả: Kết quả cho thấy nam có tỷ lệ sử dụng thuốc lá cao hơn nữ (21,1% so với 7,1%), học sinh ở các trường giáo dục thường xuyên (GDTX) có tỷ lệ sử dụng (24,5%) cao học sinh ở trường công lập (10,5%) và học sinh ở trường dân lập (16,0%). Lần đầu tiên thử hút thuốc lá của VTN là ở độ tuổi rất sớm 13 – 14 tuổi (25%). Các yếu tố nguy cơ dẫn tới hành vi từng hút thuốc lá ở VTN là nam giới (OR: 2,653; KTC 95%: 1,880 – 3,731), thấy có người hút thuốc trong trường (OR: 2,063; KTC 95%: 1,480 – 2,875) và học lực trung bình (OR: 1,761, KTC 95%: 1,012 – 3,058). Kết luận và khuyến nghị: Kết quả của nghiên cứu là cơ sở để tìm hiểu các yếu tố liên quan tới hành vi hút thuốc lá, từ đó cung cấp thêm thông tin dự thảo các chiến lược can thiệp phòng chống hút thuốc lá ở VTN đạt hiệu quả cao.

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Báo cáo ca lâm sàng: Kết quả điều trị và chăm sóc vết thương nhiễm trùng sau chấn thương trên bệnh nhân tiểu đường tuyp II tại phòng khám Đa khoa Trường Đại học Y tế Công Cộng

Mục tiêu: Mô tả một trường hợp lâm sàng về chăm sóc và điều trị vết thương nhiễm trùng nặng sau chấn thương trên bệnh nhân đái tháo đường type 2 tại Phòng khám đa khoa trường ĐH Y tế công cộng. Ca bệnh: bệnh nhân  nam, 56 tuổi, tiền sử đái tháo đường type 2 điều trị không thường xuyên, vào phòng khám ngày 9/8/2018 với lý do đau nhức, chảy mủ tại vết thương ở cẳng tay. Cách đó 2 tháng bệnh nhân bị ngã cầu thang chấn thương vùng cẳng tay, vết thương loét rộng, nhiễm trùng. Bệnh nhân đã điều trị tại nhiều bệnh viện nhưng vết thương không liền, loét sâu phải cắt lọc và để mở. Sau đó bệnh nhân vào phòng khámđã được chỉ định làm các cận lâm sàng và điều trị nội khoa ổn định, kết hợp ngoại khoa, chăm sóc vết thương bằng chiếu đèn hồng ngoại và chế độ dinh dưỡng dành cho người tiểu đường. Sau 4 tháng điều trị, vết thương đã liền sẹo, không đau nhức. Kết luận: Điều trị vết thương bị nhiễm trùng trên bệnh nhân có cơ địa đặc biệt là vô cùng khó khăn. Để vết thương nhanh liền chúng ta có thể kết hợp nhiều phương pháp điều trị như nội khoa, ngoại khoa và kết hợp với vật lý trị liệu, dinh dưỡng trị liệu.

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Đánh giá các hành vi nguy cơ tai nạn thương tích không chủ đích và bạo lực của vị thành niên tại Hà Nội, năm 2019

Mục tiêu: Tai nạn thương tích không chủ đích và bạo lực là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở lứa tuổi vị thành niên. Do đó, nghiên cứu về các hành vi này ở nhóm vị thành niên có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong nâng cao sức khoẻ cộng đồng vì vị thành niên là thế hệ tương lai của đất nước. Tuy nhiên, các nghiên cứu tìm hiểu về thực trạng các hành vi nguy cơ tai nạn thương tích không chủ đích và bạo lực cũng như các yếu tố liên quan trong nhóm vị thành niên ở Việt Nam vẫn còn hạn chế. Nghiên cứu thực hiện nhằm mô tả thực trạng nhóm hành vi nguy cơ tai nạn thương tích không chủ đích tới sức khoẻ vị thành niên và các yếu tố liên quan tại Hà Nội năm 2019 Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang, sử dụng thiết kế chọn mẫu nhiều giai đoạn. Có tổng số 3.443 đối tượng là học sinh các trường THPT trên địa bàn thành phố Hà Nội đồng ý tham gia nghiên cứu. Số liệu được thu thập bằng hình thức phát vấn online thông qua phần mềm KoboToolbox, sau đó tổng hợp trên Microsoft Excel và được phân tích bằng phần mềm STATA 14.0. Kết quả: Có 14% học sinh trả lời rằng mình đã từng hút thuốc lá, 51,6% trả lời rằng mình đã từng uống rượu bia. Khoảng 6,9% vị thành niên trả lời rằng họ hiếm khi hoặc không bao giờ đội mũ bảo hiểm, 30% trả lời rằng họ từng ít nhất một lần sử dụng điện thoại và 8,2% thừa nhận rằng mình từng uống rượu bia sau đó điều khiển phương tiện giao thông. Liên quan tới nhóm các hành vi bạo lực, gần 4,8% học sinh đã từng mang theo vũ khí bên mình trong 30 ngày qua, 6,5% đã từng ít nhất 1 lần tham gia đánh nhau trong 12 tháng qua, 2,4% cho rằng mình đã từng ít nhất 1 lần bị lạm dụng tình dục và khoảng 11,6% học sinh cho rằng mình đã từng trải qua việc bị bắt nạt tại trường học. Hút thuốc (OR = 2,21), uống rượu bia (OR = 2,08) và buồn bã liên tục trong vòng 2 tuần (OR = 1,61) làm tăng nguy cơ thực hiện các hành vi nguy cơ dẫn tới tai nạn thương tích không chủ đích. Kết luận và khuyến nghị  :  Tỷ lệ vị thành niên tại Hà Nội có các hành vi nguy cơ có thể dẫn tới tai nạn thương tích không chủ đích cao. Các yếu tố như từng hút thuốc, uống rượu hoặc gặp các vấn đề về tâm lý làm gia tăng nguy cơ thực hiện các hành vi này. Chúng tôi khuyến nghị rằng gia đình và nhà trường cần các giáo dục, tuyên truyền cho vị thành niên về ý thức khi tham gia giao thông và tránh xa các chất gây nghiện, bên cạnh đó còn cần kịp thời phát hiện bạo lực học đường và có những hỗ trợ tâm lý kịp thời khi vị thành niên gặp các vấn đề về tâm lý

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến việc đọc sách của sinh viên cử nhân chính quy Trường Đại học Y tế Công Cộng năm 2019

Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả thực trạng và xác định một số yếu tố liên quan đến việc đọc sách của sinh viên cử nhân chính quy trường Đại học Y tế công cộng, năm 2019. Phương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu cắt ngang phân tích. Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 04 năm 2019 đến tháng 04 năm 2020, trên 420 sinh viên cử nhân chính quy của trường Đại học Y tế công cộng. Thông tin được thu thập thông qua phát phiếu tự điền. Kết quả: Tỷ lệ sinh viên yêu thích đọc sách là 80,0% và thường xuyên đọc sách chiếm 41,0%. Phân tích mô hình hồi quy đa biến cho thấy, yếu tố liên quan đến mức độ đọc sách thường xuyên của sinh viên gồm: Tần suất đến thư viện hàng tuần (OR=1,87; p=0,004; CI95%: 1,22 – 2,84) và Đọc hết tài liệu thầy cô giao (OR=1,61; p=0,043; CI95%: 1,01 – 2,55). Ngoài ra, việc đọc toàn bộ sách được giao của các sinh viên yêu thích đọc sách cũng cao hơn hẳn các sinh viên không yêu thích đọc sách. Kết luận và khuyến nghị : Việc đọc sách trong sinh viên nhìn chung vẫn chưa cao và chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố, trong đó có hình thức giảng dạy của thầy cô. Do đó, thầy/cô nên tăng cường việc kiểm tra việc đọc sách, đọc tài liệu môn học trước khi vào giờ học và áp dụng tiêu chí quy định về số sách chuyên ngành tham khảo cho mỗi bài tập trong quá trình chấm điểm.

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Đánh giá điều kiện an toàn thực phẩm của cơ sở sản xuất nước uống đóng chai tại thành phố Cần Thơ năm 2020

Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá điều kiện an toàn thực phẩm, xác định tỷ lệ ô nhiễm vi sinh vật trong nước uống đóng chai tại thành phố Cần Thơ năm 2020. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang 116 cơ sở sản xuất, 58 mẫu nước uống đóng chai từ tháng 02 đến tháng 5/2020.. Kết quả: Tỷ lệ cơ sở đạt các tiêu chí về điều kiện an toàn thực phẩm là 44,0% (51/116), tỷ lệ nhiễm vi sinh vật là 39,7% (23/58). Kết luận và khuyến nghị : Tỷ lệ cơ sở đạt các điều kiện an toàn thực phẩm thấp và tỷ lệ ô nhiễm vi sinh vật cao. Do đó cầnkiểm tra đột xuất đối với các cơ sở sản xuất bị nhiễm vi sinh vật và tăng tần suất kiểm tra định kỳ 2 lần/năm đối với các cơ sở sản xuất không duy trì các điều kiện về an toàn thực phẩm theo quy định

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Đánh giá mối liên quan giữa tính nhạy cảm với hành vi hút thuốc ở học sinh một số trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Hà Nội và một số yếu tố liên quan trong năm 2019

Mục tiêu nghiên cứu: Hiện nay, tại Việt Nam, mặc dù nhiều chính sách đã được ban hành nhằm giảm thiểu hành vi hút thuốc ở học sinh trung học phổ thông (THPT) nhưng tỉ lệ hiện đang hút thuốc lá ở đối tượng này còn cao. Một trong những yếu tố dự đoán cho việc hút thuốc ở học sinh THPT là tính nhạy cảm với hành vi hút thuốc. Nghiên cứu nhằm mô tả tính nhạy cảm với hành vi hút thuốc ở đối tượng học sinh THPT và xác định các yếu tố liên quan đến tính nhạy cảm ở những đối tượng này. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện với học sinh tại 14 cơ sở giáo dục hệ THPT trên địa bàn 5 quận/huyện thuộc thành phố Hà Nội được lựa chọn ngẫu nhiên. Bộ câu hỏi được xây dựng dựa trên bộ công cụ Đánh giá hành vi nguy cơ sức khỏe trẻ vị thành niên (Youth Risk Behavior Surveillance System - YRBSS). Kết quả: Có 3272 học sinh hoàn thành khảo sát và trong đó, 4,9% (KTC 95%: 4,2 – 5,8%) số đối tượng nhạy cảm với hành vi hút thuốc. Các yếu tố có liên quan đến tính nhạy cảm với hành vi hút thuốc lá bao gồm: giới tính nam (OR=2,79, KTC 95%: 2,29 – 3,41), nằm trong độ tuổi từ 16-17 (OR=1,25, KTC 95%: 1,01 – 1,56), học tại các quận nội thành (OR=1,41, KTC 95%: 1,15 – 1,74), nhìn thấy hành vi hút thuốc của: người thân (OR=1,39, KTC 95%: 1,14 – 1,70), thầy cô (OR=1,8, KTC 95%: 1,23 – 2,63), bạn bè (OR=2,33, KTC 95%: 1,88 – 2,89), nhân viên trong trường (OR=1,63, KTC 95%: 1,17 – 2,26); việc tham gia tiết học Phòng chống tác hại (PCTH) thuốc lá (OR=1,31, KTC 95%: 1,06 – 1,62) và nhìn thấy thông điệp PCTH thuốc lá (OR=1,28, KTC 95%: 1,005 – 1,63) là các yếu tố bảo vệ. Kết luận và khuyến nghị: Cần tăng cường các chương trình can thiệp PCTH thuốc lá và cần tăng cường những biện pháp can thiệp và những chính sách quyết liệt hơn nhằm giảm tính nhạy cảm ở trẻ vị thành niên, từ đó giảm thiểu thực trạng hút thuốc ở những đối tượng này.

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Tính giá trị và độ tin cậy của thang đo kiến thức, thái độ về rối loạn tự kỷ của người chăm sóc trẻ tại hai tỉnh Hòa Bình và Thái Bình, Việt Nam

Mục tiêu nghiên cứu: Rối loạn tự kỷ (RLTK) là một nhóm các rối loạn phát triển, đặc trưng bởi những khó khăn trong tương tác xã hội, giao tiếp và một loạt các hành vi và mối quan tâm bị hạn chế hoặc bị lặp đi lặp lại. Nghiên cứu được tiến hành năm 2017, nhằm xây dựng và chuẩn hóa một thang đo đảm bảo để đánh giá kiến thức và thái độ về RLTK ở người chăm sóc trẻ (NCST). Phương pháp nghiên cứu: Chúng tôi tiến hành phỏng vấn 193 NCST 18-60 tháng tuổi tại Hòa Bình và Thái Bình. Phân tích thành tố chính và hệ số Cronbach’s Alpha được sử dụng để đánh giá tính giá trị và độ tin cậy của thang đo. Kết quả: Kết quả cho thấy thang đo kiến thức sau khi chuẩn hóa gồm 13 câu hỏi, với tỉ lệ giải thích sự biến thiên của thang đo là 82,5% ở ngưỡng rất tốt; Cronbach’s alpha của 3 thành tố và cả thang đo kiến thức nằm trong khoảng từ 0,58-0,79, là ngưỡng chấp nhận được đến tốt. Thang đo thái độ sau chuẩn hóa gồm 6 câu hỏi, có tỉ lệ giải thích sự biến thiên thái độ là 52,8%; hệ số Cronbach’s alpha là 0,76, ở mức tốt. Kết luận và khuyến nghị: Kết quả khẳng định thang đo kiến thức và thái độ của NCST về RLTK mà chúng tôi phát triển hoàn toàn đảm bảo tính giá trị và độ tin cậy để áp dụng trong thực tiễn.

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Một số hành vi nguy cơ khi tham gia giao thông đường bộ bằng xe máy điện, xe đạp điện của học sinh trường Trung học Phổ thông chuyên Lê Hồng Phong, tỉnh Nam Định năm 2019

Mục tiêu : Mô tả một số hành vi nguy cơ khi tham gia giao thông đường bộ bằng xe máy điện, xe đạp điện của học sinh trường trung học phổ thông chuyên Lê Hồng Phong, tỉnh Nam Định năm 2019 Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng. Nghiên cứu phát vấn được thực hiện trên 235 học sinh tại trường trung học phổ thông Lê Hồng Phong, Nam Định từ tháng 5 đến tháng 10 năm 2019. Kết quả : Trên 235 học sinh sử dụng xe đạp điện, xe máy điện, với hành vi vi phạm điều khiển tốc độ có 37,9% đối tượng đã từng thực hiện hành vi này, vi phạm mũ bảo hiểm là 31,1% và 42,4% đã từng sử dụng điện thoại di động khi lái xe, các hành vi vượt đèn đỏ, đi sai làn đường và dàn hàng ngang cũng có tỉ lệ vi phạm trên 50%. Trên 90% học sinh biết rằng luật quy định cấm các hành vi này. Kết luận và khuyến nghị: Nghiên cứu cho thấy cần có các hình thức tuyên truyền hiệu quả hơn về việc tuân thủ Luật ATGT. C ác cơ quan chức năng của tỉnh cần triển khai đồng bộ các biện pháp nhằm đảm bảo ATGT nhất là khu vực trường học thường xuyên và đầy đủ và có những hình phạt cụ thể.