Sự hài lòng của người bệnh nội trú về dịch vụ khám chữa bệnh và một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện Hoàn Mỹ Bình Phước năm 2019
Tóm tắt
Mục tiêu: Trong công tác quản lý chất lượng bệnh viện, sự hài lòng của người bệnh là một trong những mục đích quan trọng cần đạt được của các cơ sở y tế. Nghiên cứu thực hiện với mục tiêu: (1) Mô tả sự hài lòng của người bệnh nội trú về dịch vụ khám chữa bệnh và (2) Phân tích một số yếu tố liên quan đến sự hài lòng của người bệnh nội trú tại bệnh viện Hoàn Mỹ Bình Phước.
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang có phân tích được thực hiện từ tháng 4 đến tháng 10 năm 2019 trên 300 người bệnh nội trú, sử dụng bộ câu hỏi phát vấn được thiết kế bởi tập đoàn y khoa Hoàn Mỹ xây dựng trên biểu mẫu của Bộ Y tế.
Kết quả: Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ hài lòng chung là 92,27%. Sự hài lòng của người bệnh về công tác khám chữa bệnh có tỷ lệ cao nhất 96,55%; tiếp đến sự hài lòng của người bệnh về thời gian sử dụng dịch vụ trong bệnh viện là 94,62%; Sự hài lòng của người bệnh về thái độ phục vụ của nhân viên y tế là 90,96%; thấp nhất là Sự hài lòng của người bệnh về cơ sở vật chất là 86,75%.
Kết luận: Nghiên cứu tìm thấy mối liên quan giữa sự hài lòng và số lần nhập viện điều trị trong 12 tháng qua của người bệnh.
Cách trích dẫn
- 1. Bộ Y tế (2016). Quyết định số 6858/QĐ-BYT ban hành Bộ tiêu chí chất lượng bệnh viện Việt Nam. .
- 2. Bộ Y tế (2017). Quyết định số 4969/QĐ-BYT ngày 01/11/2017 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc Ban hành nội dung kiểm tra, đánh giá chất lượng bệnh viện và khảo sát hài lòng người bệnh, nhân viên y tế năm 2017. .
- 3. Bộ Y tế (2017). Công văn số 1626 /KCB-QLCL ngày 03/11/2017 Hướng dẫn kiểm tra, đánh giá chất lượng bệnh viện và khảo sát hài lòng người bệnh, nhân viên y tế năm 2017. .
- 4. Bùi Công Sự (2017), Sự hài lòng của bệnh nhân điều trị nội trú và một số yếu tố ảnh hưởng tại Bệnh viện Đa khoa huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk năm 2017, Trường Đại học Y tế công cộng, Hà Nội.
- 5. Dương Văn Lợt (2016). Sự hài lòng của người bệnh nội trú tại Trung tâm Y tế huyện Đăk Glei trong tháng 6 năm 2016. Trường Đại học Y tế công cộng, Hà Nội.
- 6. Lê Văn Hà (2018). Mức độ hài lòng của người bệnh nội trú và các yếu tố ảnh hưởng tại BV đa khoa tỉnh Ninh Thuận năm 2018. Trường Đại học Y tế công cộng, Hà Nội.
- 7. Trần Thị Mến (2014). Thực trạng khám chữa bệnh và sự hài lòng của người bệnh ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa Đông Hưng, tỉnh Thái Bình năm 2014. Luận văn thạc sĩ quản lý bệnh viện, trường Đại học Y tế công cộng, Hà Nội. Đặng Văn Đẩu và cộng sự
- 94 Tạp chí Khoa học Nghiên cứu Sức khỏe và Phát triển (Tập 04, Số 03-2020) Journal of Health and Development Studies (Vol.04, No.03-2020) Satisfaction of inpatient with diagnosis and treatment service and some associated factors in Hoan My Binh Phuoc hospital in 2019 Dang Van Dau1, Nguyen Duc Thanh2, Phung Thanh Hung2*, Le Hoa Khanh3 1Binh Phuoc Hoan My Hospital 2Hanoi University of Public Health 3Nhan Duc clinic In health administration, the satisfaction of patients is an important factor that need to be achieved by health facilities. This cross-sectional analytical study aims to fulfill two objectives: (1) To describe the satisfaction among inpatients, and (2) To identify some related factors to the satisfaction of inpatients at Hoan My Binh Phuong Hospital. The study took place between April and October 2019 on 300 inpatients and used a questionnaire designed by Hoan My Medical Group based on the Ministry of Health’s satisfaction form. The research results show that the average satisfaction rate of the medical service at Hoan My Binh Phuoc Hospital is
- 92.27%. The satisfaction of patients on medical examination and treatment is the highest at
- 96.55%; followed by satisfaction on the time to use the services in the hospital at 94.62%; the satisfaction rate on service attitude of medical staff is 90.96% and on the facilities is the lowest at 86.75%. The study also found that the number of hospitalizations treated in the past 12 months the associated factor to the satisfaction of patients. Key words: satisfaction, inpatient, diagnosis and treatment service. Đặng Văn Đẩu và cộng sự