Mục tiêu: Động lực có vai trò quan trọng thực hiện công việc của NVYT, góp phần tăng hiệu quả thực hiện công việc và giúp cho việc duy trì nhân viên làm việc tại cơ sở. Nghiên cứu được tiến hành nhằm mô tả động lực làm việc và tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên khối hành chính – hỗ trợ Bệnh viện Đa đa khoa Đồng Tháp năm 2017. Phương pháp: Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính. Nghiên cứu được tiến hành trên tất cả 129 nhân viên khối hành chính. Bộ công cụ được xây dựng gồm 7 yếu tố và 23 tiểu mục. Kết quả: Kết quả nghiên cứu cho thấy, điểm trung bình động lực làm việc của nhân viên khối hành chính – hỗ trợ dưới góc độ động lực chung; yếu tố sức khỏe; yếu tố hài lòng với công việc và đồng nghiệp; yếu tố hài lòng khả năng bản thân và giá trị công việc; yếu tố cam kết với tổ chức; yếu tố sự tận tâm; yếu tố tuân thủ giờ giấc, tham gia dao động từ 2,91 đến 3,5 điểm. Trong đó, điểm trung bình động lực làm việc thấp nhất là yếu tố sức khỏe và điểm trung bình động lực làm việc cao nhất là yếu tố sự tận tâm trong công việc. Một số yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên khối hành chính – hỗ trợ tại bệnh viện là chính sách chi trả lương, thưởng; cơ hội học tập và phát triển; sự giúp đỡ lẫn nhau giữa các đồng nghiệp và sự hài lòng với lãnh đạo, nhà quản lý; môi trường làm việc, trang thiết bị và cơ sở vật chất. Kết luận: Kết quả nghiên cứu cung cấp một số bằng chứng khoa học tham mưu cho Ban Giám đốc bệnh viện xây dựng các giải pháp nhằm tăng cường động lực làm việc cho nhân viên y tế.
Mục tiêu: Mô tả thực trạng kiệt sức nghề nghiệp (KSNN) của nhân viên y tế bệnh viện quận Thủ Đức năm 2019 và phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến kiệt sức nghề nghiệp của nhân viên y tế bệnh viện quận Thủ Đức năm 2019. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp phương pháp định luợng và định tính được thực hiện tại bệnh viện quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh, từ tháng 3 đến tháng 10 năm 2019. Đối tượng nghiên cứu (ĐTNC): Bác sỹ, lãnh đạo bệnh viện, các quy định và chính sách hiện hành của bệnh viện. Nghiên cứu sử dụng bộ câu hỏi đánh giá kiệt sức nghề nghiệp cho nhân viên y tế (Maslach Burnout Inventory for Medical Personnel ) gồm 22 câu hỏi. Kết quả: Có 167 (41,4%) bác sỹ nam và 236 (58,6%) bác sỹ nữ. Điểm KSNN chung của bác sĩ là 53,0 ± 23,5 (7-127) và cảm giác về hiệu quả chuyên môn của bản thân bác sỹ là 14,2 ± 8,1 (0-43). KSNN chung được tìm thấy ở 62,6% bác sỹ. Ở từng khía cạnh KSNN, 73,4% bác sỹ bị kiệt sức về mặt tinh thần, 44,2% bác sỹ có cảm giác hoài nghi về bản thân và 64,8% số bác sỹ đối diện với KSNN khi cảm nhận về thành tích bản thân. Các yếu tố về dịch vụ y tế, nhân lực, tài chính, cơ sở vật chất, điều hành và quản lý đều đang ảnh hưởng theo hướng góp phần làm gia tăng KSNN ở các bác sỹ. Kết luận: KSNN ở bác sỹ của bệnh viện quận Thủ Đức là khá cao. Các sức ép về khối lượng công việc/ dịch vụ y tế và con người, áp lực tự chủ tài chính, điều kiện cơ sở vật chất chật hẹp và yếu tố quản trị đã và đang làm gia tăng KSNN ở bác sỹ.
Mục tiêu : Nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng thực hiện quy chế kê đơn thuốc điều trị ngoại trú và phân tích một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện đa khoa khu vực Ninh Hòa năm 2019. Phương pháp nghiên cứu : Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng (400 đơn thuốc BHYT) và định tính. Nghiên cứu thực hiện năm 2019 tại bệnh viện đa khoa khu vực Ninh Hoà. Kết quả: Kết quả cho thấy: 94, 75% đơn đạt về kê đơn an toàn; 29,75% đơn có kê 1 đến 2 kháng sinh; Số thuốc trung bình trong 1 đơn là 3,7 ± 1,24 loại thuốc; Tỷ lệ đơn thuốc có tương tác thuốc chung là 5,25%. Một số yếu tố ảnh hưởng là: Bác sĩ chưa quan tâm đúng mức việc kê đơn thuốc an toàn, hợp lý. Công tác đấu thầu thuốc, dự trù, cung ứng thuốc còn chậm trễ không kịp thời cho công tác khám và điều trị. Bệnh viện chưa có phần mềm tra cứu thông tin thuốc, tương tác thuốc. Kết luận: Các bác sĩ cần thường xuyên cập nhật Thông tin thuốc, thực hiện tốt quy chế kê đơn, tránh để xảy ra tương tác khi kê đơn. Khoa dược cần tham mưu cho Giám đốc bệnh viện ký hợp đồng chặt chẽ với các Công ty dược để cung ứng thuốc phục vụ cho người bệnh đầy đủ, kịp thời.
Mục tiêu: Nghiên cứu được thực hiện với 02 mục tiêu nhằm mô tả và phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến việc thu hút và duy trì bác sĩ tại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang. Phương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp hồi cứu số liệu thứ cấp và định tính, thực hiện từ tháng 1 đến tháng 7/2019. Hồi cứu số liệu thứ cấp thực trạng thu hút, duy trì tại đơn vị trong khi nghiên cứu định tính trên nhân viên y tế, nhà quản lý nhằm tìm các yếu tố ảnh hưởng. Kết quả : Nghiên cứu cho thấy Bệnh viện thiếu bác sĩ để phục vụ lượng bệnh nhân quá tải: tỷ lệ bác sĩ/giường bệnh chỉ đạt 0,18 (194/1.100). Trong 03 năm (2016-2018) bệnh viện tuyển dụng được 46 bác sĩ, so với 107 bác sĩ cần tuyển dụng, đạt 43% theo kế hoạch. Số bác sĩ nghỉ việc, bỏ việc trong 03 năm là 21 người, trong đó có 04 bác sĩ bỏ việc do hoàn cảnh gia đình. Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc thu hút, duy trì bác sĩ tại Bệnh viện là thực hiện công tác tuyển dụng, chính sách thu hút, sự thừa nhận thành tích, môi trường làm việc, cơ hội đào tạo và thu nhập. Kết luận: Kết quả nghiên cứu cung cấp bằng chứng khoa học tham mưu cho Ban Giám đốc xây dựng các giải pháp nhằm thu hút và duy trì bác sĩ trong thời gian tới.
Mục tiêu: Nghiên cứu nhằm mô tả động lực làm việc và phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của điều dưỡng tại Bệnh viện Huyện Krông Pắc, Tỉnh Đắk Lắk năm 2019. Phương pháp nghiên cứu: Thiết kế mô tả cắt ngang kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính được tiến hành qua phát vấn 65 điều dưỡng, 10 cuộc phỏng vấn sâu, 5 cuộc thảo luận nhóm từ tháng 4 - 8/2019 tại bệnh viện Krông Pác, tỉnh Đắk Lắk. Kết quả : Tỉ lệ điều dưỡng có động lực làm việc tương đối cao, khoảng 88,7%. Động lực làm việc với yếu tố hài lòng với công việc là 4,08±0,7 điểm, yếu tố cam kết với tổ chức là 4,17±0,62 điểm, yếu tố tận tâm là 4,41±0,58 điểm. Một số yếu tố tác động tích cực tới động lực là điều kiện làm việc, mối quan hệ với đồng nghiệp lãnh đạo, bố trí công việc phù hợp, hệ thống đánh giá. Yếu tố hạn chế động lực làm việc là lương, phụ cấp còn thấp. Kết luận: Bệnh viện cần thực hiện các biện pháp duy trì và thúc đẩy động lực làm việc của điều dưỡng trên cơ sở kết quả nghiên cứu để tăng cường hiệu quả cung cấp các dịch vụ cho người bệnh.
Mục tiêu: Mô tả thực trạng và các yếu tố liên quan đến việc sử dụng thẻ bảo hiểm y tế trong khám chữa bệnh của người nhiễm HIV/AIDS tại thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp năm 2019. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang, kết hợp định lượng và định tính trên toàn bộ 210 người nhiễm HIV/AIDS có thẻ bảo hiểm y tế thuộc phường 1, 2 và 3 của thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp trong thời gian từ tháng 3 đến tháng 12 năm 2019. Kết quả: 125 người nhiễm HIV/AIDS (59,5%) sử dụng bảo hiểm y tế khi khám chữa bệnh trong 12 tháng qua. Trong đó, 5/125 người nhiễm HIV/AIDS sử dụng bảo hiểm y tế cho khám, điều trị ARV. Lý do chính lý giải cho việc không sử dụng bảo hiểm y tế là tâm lý sợ bị kì thị (83,5%). Nghiên cứu chỉ ra nhiều yếu tố cá nhân, đồng đẳng viên/gia đình và truyền thông về BHYT có liên quan đến tỷ lệ sử dụng bảo hiểm y tế khi khám chữa bệnh trong 12 tháng qua. Kết luận : Ngành y tế và cơ quan bảo hiểm y tế tỉnh Đồng Tháp cần có kế hoạch chuẩn bị cho giai đoạn tới khi Quỹ toàn cầu không còn tài trợ kinh phí cho hoạt động khám, điều trị ARV cũng như tăng cường truyền thông cải thiện kiến thức, giảm tâm lý tự kì thị của người nhiễm HIV/AIDS khi sử dụng bảo hiểm y tế trong khám chữa bệnh.
Mục tiêu: Nghiên cứu được thực hiện với 2 mục tiêu: (1) Thực trạng nguồn nhân lực tại Bệnh viện đa khoa (BVĐK) huyện Cư Kuin giai đoạn 2016 - 2018; (2) Phân tích yếu tố ảnh hưởng đến việc thu hút và duy trì nguồn nhân lực tại BVĐK huyện Cư Kuin giai đoạn 2016 - 2018. Phương pháp: Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp phân tích số liệu thứ cấp và nghiên cứu định tính. Số liệu thứ cấp từ các báo cáo, thống kê của bệnh viện (BV) từ năm 2016 - 2018. Nghiên cứu định tính phỏng vấn sâu cán bộ viên chức, đại diện lãnh đạo, cán bộ quản lý và nhân viên tại bệnh viện. Kết quả : Nghiên cứu cho thấy, nhân lực tại BVĐK huyện Cư Kuin giảm dần từ năm 2016-2018 và còn thiếu so với TT 08 từ 29 - 85 người. Nhân lực theo chuyên môn còn thiếu Bác sĩ và Dược sĩ đại học; Số lượng cán bộ tuyển dụng được qua các năm đều thiếu so với kế hoạch tuyển dụng; Tỷ lệ phân bổ nhân lực theo các bộ phận lâm sàng, cận lâm sàng và quản lý hành chính chưa cân đối. Công tác quy hoạch và sử dụng sau đào tạo vẫn còn nhiều hạn chế; Công tác thu hút, tuyển dụng nhân lực còn nhiều bất cập. Kết luận: Để đảm bảo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu và thực hiện các hoạt động, BV cần xây dựng chiến lược phát triển BV phù hợp với tình hình thực tế địa phương; thường xuyên thực hiện việc đào tạo và đào tạo lại cho CBYT; Đối với Sở Y tế cần bổ sung nhân lực y tế phù hợp với TT 08; Hỗ trợ kinh phí đào tạo để tăng cường kiến thức và cập nhật thông tin cho CBYT của BVĐK huyện Cư Kuin.
Mục tiêu: Nghiên cứu tiến hành nhằm mô tả thực trạng thực hiện quy trình lâm sàng chẩn đoán và điều trị đái tháo đường type 2 tại Trung tâm Y tế huyện Tứ Kỳ, năm 2019. Phương pháp: Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt, thu thập thông tin qua phỏng vấn 215 bệnh nhân và rà soát hồ sơ bệnh án của những bệnh nhân đó. Kết quả : Nghiên cứu cho thấy thông tin hành chính của người bệnh được hoàn thiện tương đối đầy đủ trong hồ sơ bệnh án (HSBA) tỷ lệ trung bình có thực hiện đạt 92,8%. Tỷ lệ có thực hiện đầy đủ các nội dung trong 7 bước của quy trình từ việc phỏng vấn người bệnh là 79,4% và từ việc thu thập số liệu từ HSBA là 83,5%. Tuy nhiên, tỷ lệ thông tin "có thực hiện" từ phỏng vấn đều cho tỷ lệ thấp hơn từ HSBA. Kết luận: Nghiên cứu cũng đưa ra khuyến nghị về việc chuẩn hóa và ban hành các quy trình chuyên môn, tăng cường kiểm tra giám sát chặt chẽ theo quy định của Bộ Y tế trong đó có Quy trình lâm sàng chẩn đoán và điều trị ĐTĐ type 2 nhằm giảm tỷ lệ không thực hiện các nội dung quy trình chuyên môn tại Trung tâm Y tế huyện Tứ Kỳ.
Mục tiêu : Đánh giá nhu cầu đào tạo về lãnh đạo và quản lý của cán bộ quản lý y tế tuyến tỉnh và huyện trên toàn quốc dựa trên khung năng lực cơ bản về quản lý Phương pháp nghiên cứu : Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu cắt ngang, thu thập số liệu định lượng bằng bộ câu hỏi tự điền. Số liệu được thu thập năm 2016, trực tiếp tại 7 tỉnh đại diện cho 7 vùng sinh thái và gián tiếp của các tỉnh/thành phố còn lại. Kết quả nghiên cứu : Kết quả phát vấn thu được từ 1749 đối tượng nghiên cứu cho thấy năng lực lãnh đạo và quản lý của các cán bộ quản lý nhìn chung còn thấp, Tỷ lệ cán bộ quản lý tự đánh giá có đủ năng lực thực hiện công việc chỉ chiếm xấp xỉ 20%. Năng lực lãnh đạo quản lý của ban giám đốc cao hơn cán bộ quản lý khoa, phòng. Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về năng lực của cán bộ quản lý tuyến huyện và tuyến tỉnh. Trên 65% đối tượng cho biết có nhu cầu đào tạo ở mức cao với tất cả 14 nhóm năng lực khảo sát. Kết luận : Việc xây dựng và triển khai đào tạo nhằm tăng cường, bồi dưỡng năng lực lãnh đạo quản lý cho cán bộ quản lý y tế là hết sức cấp thiết. Tuy nhiên, các chương trình đào tạo cần được xây dựng phù hợp với đặc thù khác nhau của các nhóm cán bộ quản lý.
Mục tiêu: Trong công tác quản lý chất lượng bệnh viện, sự hài lòng của người bệnh là một trong những mục đích quan trọng cần đạt được của các cơ sở y tế. Nghiên cứu thực hiện với mục tiêu: (1) Mô tả sự hài lòng của người bệnh nội trú về dịch vụ khám chữa bệnh và (2) Phân tích một số yếu tố liên quan đến sự hài lòng của người bệnh nội trú tại bệnh viện Hoàn Mỹ Bình Phước. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang có phân tích được thực hiện từ tháng 4 đến tháng 10 năm 2019 trên 300 người bệnh nội trú, sử dụng bộ câu hỏi phát vấn được thiết kế bởi tập đoàn y khoa Hoàn Mỹ xây dựng trên biểu mẫu của Bộ Y tế. Kết quả: Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ hài lòng chung là 92,27%. Sự hài lòng của người bệnh về công tác khám chữa bệnh có tỷ lệ cao nhất 96,55%; tiếp đến sự hài lòng của người bệnh về thời gian sử dụng dịch vụ trong bệnh viện là 94,62%; Sự hài lòng của người bệnh về thái độ phục vụ của nhân viên y tế là 90,96%; thấp nhất là Sự hài lòng của người bệnh về cơ sở vật chất là 86,75%. Kết luận: Nghiên cứu tìm thấy mối liên quan giữa sự hài lòng và số lần nhập viện điều trị trong 12 tháng qua của người bệnh.
Mục tiêu: Xác định chi phí đầy đủ của phẫu thuật cắt amiđan tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 năm 2019. Phương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 304 bệnh nhân phẫu thuật cắt amiđan tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 năm 2019 . Kết quả nghiên cứu: Chi phí phẫu thuật cắt amiđan đầy đủ (không bao gồm chi phí khám và thực hiện xét nghiệm tiền phẫu trước phẫu thuật) thay đổi tuỳ theo kỹ thuật. Chi phí trung bình đối với phương pháp cắt amiđan bằng dao điện là 1.740.869 đồng (68% chi phí trực tiếp, 32% chi phí gián tiếp), đối với Coblator là 3.610.031 đồng (84,58% chi phí trực tiếp, 15,42% chi phí gián tiếp) và đối với Plasma là 3.600.124 đồng (84,54% chi phí trực tiếp, 15,46 % chi phí gián tiếp). Đối với tỷ trọng các khoản mục chi phí trong cả 3 phương pháp phẫu thuật thì chi phí thuốc, dụng cụ phẫu thuật, vật tư tiêu hao và nhân sự chiếm đa số trong nhóm chi phí trực tiếp; trong nhóm chi phí gián tiếp, chi phí nhân sự có tỷ trọng cao nhất, tiếp theo là chi phí duy tu bảo dưỡng cơ sở hạ tầng và trang thiết bị, các khoản mục chi phí khác có tỷ trọng rất thấp. Kết luận: Chi phí trung bình của phẫu thuật cắt amiđan bằng dao điện là 1.740.869 đồng; chi phí phẫu thuật cắt amiđan bằng Coblator là 3.610.031 đồng; chi phí phẫu thuật cắt amiđan bằng Plasma là 3.600.124 đồng. Mức chi phí này cao hơn so với mức viện phí hiện tại mà bệnh viện thu của bệnh nhân hay được BHYT chi trả. Điều này cho thấy sự bất hợp lý giữa chi phí đầu vào với mức giá đang áp dụng tại bệnh viện.
Mục tiêu : Nghiên cứu này khảo sát tình trạng giao tiếp, ứng xử giữa bác sĩ và điều dưỡng tại Bệnh Đa khoa Hoàn Mỹ Đà Lạt. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành năm 2019 sử dụng phương pháp pháp phát vấn 35 bác sĩ và 84 điều dưỡng qua bảng hỏi. Kết quả nghiên cứu: Kết quả cho thấy tỷ lệ bác sĩ trả lời có trao đổi với điều dưỡng về tình trạng bệnh nhân là 85,7%, về cơ sở vật chất là 22,9%, về phác đồ điều trị là 83% và kế hoạch chăm sóc bệnh nhân là 86%; Gặp mặt trực tiếp là phương pháp nhiều bác sĩ và điều dưỡng chọn nhất, 82,9% bác sĩ và 90,5% điều dưỡng. Tỷ lệ bác sĩ cho rằng còn khó để nói chuyện cởi mở với điều dưỡng là 5,9% và 3,4% điều dưỡng cũng cho rằng khó nói chuyện cởi mở với bác sĩ. Kết luận: Nghiên cứu cũng chỉ ra một số yếu tố liên quan đến giao tiếp giữa bác sĩ và điều dưỡng là chuyên môn, giới tính, tuổi, bằng cấp. Bác sĩ ít gặp khó khăn trong giao tiếp hơn điều dưỡng. Về giới tính, nữ giới gặp khó khăn hơn nam giới trong giao tiếp. Tuổi càng cao thì càng ít gặp khó khăn trong giao tiếp. Bằng cấp cũng có mối liên quan có ý nghĩa thống kê đến sự khó khăn trong giao tiếp. Cụ thể, bằng cấp càng cao thì càng ít gặp khó khăn hơn.
Mục tiêu : (1) Mô tả động lực làm việc của bác sĩ và (2) Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của bác sĩ tại Viện y dược học dân tộc thành phố Hồ Chí Minh năm 2020. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang kết hợp định lượng và định tính. Kết quả: Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ bác sỹ Viện Y dược học dân tộc có động lực làm việc chiếm 81,8%, trong đó yếu tố “Hài lòng với công việc”, “Sự tận tâm với công việc” và “Cam kết với tổ chức” có tỷ lệ tương ứng 84,2%; 82,2% và 78,9%. Một số yếu tố ảnh hưởng tích cực bao gồm lương, thu nhập tăng thêm và chế độ khác; quan hệ với đồng nghiệp. Bên cạnh đó, một số yếu tố ảnh hưởng không tích cực bao gồm cơ sở vật chất không thật sự khang trang; trang thiết bị còn thiếu và không hiện đại; quản trị điều hành không có tiêu chí đánh giá thực hiện công việc chuyên môn cụ thể. Kết luận: Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ bác sỹ có động lực làm việc tương đối cao. Nghiên cứu khuyến nghị cần duy trì các yếu tố ảnh hưởng tích cực và khắc phục dần các yếu tố ảnh hưởng không tích cực nhằm ngày càng tăng động lực làm việc của các bác sỹ Viện YDHDT.
Mục tiêu: Nghiên cứu được thực hiện với 2 mục tiêu mô tả động lực làm việc (ĐLLV) của điều dưỡng viên (ĐDV) và phân tích một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện Truyền máu Huyết học, thành phố Hồ Chí Minh năm 2020. Phương Pháp: Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính, ĐLLV của ĐDV được đánh giá dựa trên 3 khía cạnh với 10 tiểu mục. Nghiên cứu định lượng được thực hiện trên 104 ĐDV, nghiên cứu định tính tiến hành phỏng vấn sâu (PVS) và thảo luận nhóm (TLN) đại diện ban giám đốc, phòng TCCB, phòng điều dưỡng và các ĐDV, trong thời gian từ tháng 4 – tháng 8/2020. Kết quả: Kết quả cho thấy 72,1% ĐDV tại bệnh viện có ĐLLV. Điểm trung bình ĐLLV đạt mức 3,9/5. Khía cạnh về sự tận tâm, tỷ lệ ĐDV có ĐLLV cao nhất (93,3%). Ở vị trí thứ hai là khía cạnh về hài lòng với công việc có 80,8% ĐDV có ĐLLV. Khía cạnh về cam kết với bệnh viện có tỷ lệ ĐDV có ĐLLV thấp nhất với 73,1%. Một số yếu tố như tuổi, tình trạng hôn nhân, thâm niên công tác, có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với ĐLLV chung (p <0,05). Kết luận: Thu nhập và chế độ đãi ngộ khác, điều kiện làm việc, đào tạo và phát triển có ảnh hưởng tích cực đến ĐLLV của ĐDV tại bệnh viện. Các yếu tố thuộc về phân công công việc, đánh giá thực hiện công việc có ảnh hưởng tiêu cực đến ĐLLV của ĐDV.