📚 Mục lục — Tập 2 Số 02 (2018): Tập 02, Số 02-2018
Xem Tất cả Các số ›
TẠP CHÍ JHDS 2018
Tạp chí Khoa học Nghiên cứu Sức khỏe và Phát triển
📅 Tập 2 Số 02 (2018): Tập 02, Số 02-2018
ISSN: 2588-1442 (điện tử) · 2588-1442 (in)
Nghiên cứu gốc (Original papers)
Sự sẵn có và một số yếu tố ảnh hưởng đến cung cấp dịch vụ phòng, chống một số bệnh không lây nhiễm tại hệ thống y tế cơ sở thị xã Chí Linh, Hải Dương, 2016

Mục tiêu: Vai trò của hệ thống y tế cơ sở là rất quan trọng trong việc phòng, chống các bệnh không lây nhiễm (BKLN) tại cộng đồng. Nghiên cứu nhằm mô tả sự sẵn có và các yếu tố ảnh hưởng đến sự sẵn có của dịch vụ phòng, chống một số BKLN tại hệ thống y tế cơ sở thị xã Chí Linh, Hải Dương, năm 2016. Phương pháp nghiên cứu: sử dụng phương pháp kết hợp giữa định lượng (phát phiếu tự điền, kết hợp với quan sát) và định tính (phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm với người bệnh và các bên liên quan) tại 20 trạm y tế, trung tâm y tế và bệnh viện. Kết quả: nghiên cứu cho thấy năng lực phòng chống BKLN tại hệ thống y tế cơ sở tại thị xã Chí Linh chủ yếu là truyền thông, chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn về khám sàng lọc, chẩn đoán và điều trị. Các yếu tố ảnh hưởng bao gồm khó khăn khi thực hiện chính sách BKLN vì không có kinh phí và thiếu nguồn lực (nhân lực, thuốc, trang thiết bị). Việc phối hợp với các bên liên quan cũng mới là tự nguyện, chưa có sự chỉ đạo thống nhất. Kết luận: Nhằm thực hiện tốt hoạt động phòng chống BKLN tại y tế cơ sở cần phân tuyến cho tuyến xã thực hiện các hoạt động liên quan đến dự phòng, giám sát, phát hiện, điều trị và quản lý các BKLN kèm theo kinh phí và nguồn lực nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn.  

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thông tin khám chữa bệnh tại Bệnh viện Đa khoa Kiên Giang, năm 2017

Mục tiêu: 1) Mô tả thực trạng cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin (CNTT) (máy móc, trang thiết bị và hệ thống mạng) và phần mềm quản lý thông tin khám chữa bệnh (TTKCB); 2) Mô tả một số thuận lợi và khó khăn trong việc ứng dụng CNTT trong quản lý TTKCB tại bệnh viện đa khoa (BVĐK) Kiên Giang năm 2017. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp định lượng và định tính được thực hiện từ tháng 02/2017 đến tháng 08/2017 tại BVĐK Kiên Giang. Đối tượng nghiên cứu định lượng gồm 180 bác sĩ và điều dưỡng, trả lời phát vấn theo bộ câu hỏi có cấu trúc. Số liệu định tính được thu thập qua các cuộc phỏng vấn sâu lãnh đạo bệnh viện, lãnh đạo các khoa phòng, và thảo luận nhóm với các điều dưỡng. Kết quả: Trang thiết bị CNTT cơ bản đáp ứng được nhu cầu quản lý TTKCB tại bệnh viện. Mạng LAN và internet cần nâng cấp mới đáp ứng được nhu cầu sử dụng. Phần mềm quản lý TTKCB dễ sử dụng nhưng các tiêu chí liên quan đến báo cáo số liệu và Bảo hiểm y tế (BHYT) chưa đạt. Các yếu tố thuận lợi trong việc ứng dụng CNTT trong quản lý TTKCB tại bệnh viện: sự quan tâm và chỉ đạo của Ban giám đốc; công tác đào tạo đầy đủ; kỹ năng sử dụng CNTT của cán bộ y tế. Yếu tố khó khăn lớn nhất là các văn bản hướng dẫn cụ thể của Bộ Y tế; việc liên kết chia sẻ TTKCB với BHYT chưa được đồng bộ. Kết luận và khuyến nghị: Bệnh viện cần nâng cấp hệ thống mạng, mua sắm thêm trang thiết bị CNTT phục vụ cho việc ứng dụng CNTT quản lý TTKCB. Bộ Y tế cần xây dựng văn bản hướng dẫn về việc áp dụng CNTT quản lý TTKCB tại các bệnh viện công lập và ngoài công lập.  

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Kết quả hoạt động thẩm định hồ sơ tử vong mẹ tại tỉnh Đắk Lắk 2010-2016

Mục tiêu: Nghiên cứu về kết quả hoạt động thẩm định tử vong mẹ (TĐTVM) tại tỉnh Đắk Lắk 2010-2016 được thực hiện với 2 mục tiêu: 1) Mô tả thực trạng hoạt động TĐTVM tỉnh Đắk Lắk, năm 2010 – 2016, và 2) Phân tích một số yếu tố ảnh hướng đến hoạt động TĐTVM ở Đắk Lắk. Phương pháp nghiên cứu: Thiết kế mô tả cắt ngang kết hợp định lượng và định tính, kết hợp với hồi cứu số liệu. Kết quả: Về cơ bản công tác TĐTVM được thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Y tế nhưng vẫn còn một số hạn chế như: tỷ lệ thực hiện thẩm định trong thời gian quy định (3 tháng) còn thấp (38%), các khuyến nghị phản hồi sau thẩm định còn chưa cụ thể, chung chung (75%). Một số yếu tố ảnh hưởng được xác định như không có kinh phí riêng cho hoạt động, cán bộ thiếu hiểu biết về hoạt động TĐTVM tại cơ sở y tế. Kết luận: Nghiên cứu cho thấy về cơ bản công tác TĐTVM được thực hiện theo quy trình theo hướng dẫn của Bộ Y tế tại tỉnh Đắk Lắk nhưng vẫn còn một số hạn chế. Một số khuyến nghị đã được đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động TĐTVM và giảm TVM tại tỉnh.  

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Mức độ hài lòng của người dân đối với công tác xử lý ổ dịch sốt xuất huyết Dengue của Trung tâm Y tế Quận Long Biên năm 2017

Mục tiêu : Đánh giá m ức độ hài lòng của người dân đối với công tác xử lý ổ dịch sốt xuất huyết Dengue của Trung tâm Y tế Quận Long Biên năm 2017. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang kết hợp định tính và định lượng thực hiện tại các hộ gia đình nằm trong ổ dịch sốt xuất huyết Dengue (SXHD) đã được nhận các hoạt động phòng chống SXHD trong năm 2017. Kết quả: Trong tổng số 218 hộ gia đình, mức độ hài lòng chung về truyền thông phòng chống SXHD chiếm 75,2%. Mức độ hài lòng về hoạt động vệ sinh môi trường là 68,8%. Mức độ hài lòng chung của hoạt động phun thuốc chiếm 36,7%. Các hộ gia đình được xử lý vệ sinh môi trường vào buổi trưa có tỷ lệ hài lòng (100%) cao hơn so với các thời điểm khác. Các hộ gia đình được xử lý phun thuốc vào buổi sáng có tỷ lệ hài lòng (91,1%) cao hơn các thời điểm khác. Có 90 (41,3%) hộ gia đình không cải thiện về số lượng muỗi sau khi được phun thuốc, trong đó có 93,3% (84/90) số hộ chưa hài lòng về thực trạng này. Kết luận: Công tác xử lý ổ dịch SXHD trên địa bàn quận Long Biên năm 2017 chưa thực sự đạt được sự hài lòng của người dân. Cần cải thiện chất lượng của công tác xử lý ổ dịch khi thực hiện tại cộng đồng và tại hộ gia đình.  

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh và một số yếu tố liên quan của người dân tại phường Trần Phú, quận Hoàng Mai, Hà Nội năm 2017

Mục tiêu: Mô tả thực trạng sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh (KCB) của người dân phường Trần Phú, quận Hoàng Mai, Hà Nội năm 2017; Xác định một số yếu tố liên quan đến việc sử dụng dịch vụ KCB của người dân tại Hoàng Mai. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang. Phỏng vấn trực tiếp 1146 người dân sinh sống tại phường Trần Phú, quận Hoàng Mai, Hà Nội bằng bộ câu hỏi có cấu trúc từ tháng 4/2017 đến tháng 12/2017. Kết quả: Tỷ lệ người dân bị ốm trong vòng 4 tuần trước điều tra là 16,5%. Tỷ lệ tự mua thuốc về điều trị không qua khám bệnh là 47,1%, KCB tại trạm y tế (TYT) 7,4% và đi KCB ngoại trú tại cơ sở y tế (CSYT) khác TYT 45,5%. Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa yếu tố không biết được các thông tin dịch vụ y tế (DVYT) (OR=7,1; p<0,001); không có nhu cầu sử dụng DVYT gần nhà (OR=3,5; p<0,05) cũng như việc không có thẻ BHYT (OR=3,6; p<0,01) với hành vi tự mua thuốc điều trị. Những yếu tố này làm tăng hành vi tự mua thuốc điều trị của người dân. Kết luận: Tỷ lệ người dân tự mua thuốc về uống, điều trị và đi khám tại các CSYT khác TYT đều khá cao. Việc người dân thiếu thông tin về các DVYT có mối liên hệ với hành vi tự điều trị khi mắc bệnh của người dân. Vì vậy cần tăng cường truyền thông nâng cao hiểu biết của người dân về các DVYT được cung cấp tại TYT.  

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Sự hài lòng của người bệnh nội trú về chất lượng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh tại Bệnh viện đa khoa huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk năm 2017

Mục tiêu: Mô tả sự hài lòng của người bệnh nội trú với chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh (KCB) và một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện đa khoa huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk năm 2017.  Phương pháp: Sử dụng thiết kế nghiên cứu cắt ngang có phân tích. Nghiên cứu thực hiện trên 280 người bệnh nội trú được phát vấn điều tra, sử dụng bộ công cụ đo lường sự hài lòng do Bộ Y tế xây dựng đã được chuẩn hóa. Kết quả : Các yếu tố có điểm trung bình hài lòng cao bao gồm: Khả năng tiếp cận (4,09); Thái độ ứng xử, năng lực chuyên môn của nhân viên y tế (4,29); Kết quả cung cấp dịch vụ (4,10). Các yếu tố có tỷ lệ hài lòng thấp hơn bao gồm: Sự minh bạch thông tin và các thủ tục khám bệnh, điều trị (3,87); Cơ sở vật chất và phương tiện phục vụ người bệnh (3,88). Nhóm tuổi, tình trạng hôn nhân, học vấn, kinh tế gia đình, tình trạng bảo hiểm y tế là những yếu tố liên quan đến sự hài lòng với chất lượng dịch vụ KCB.  Kết luận: Để nâng cao hơn nữa sự hài lòng của người bệnh, bệnh viện cần chuẩn hóa quy trình chăm sóc và điều trị cho người bệnh; bổ sung trang thiết bị, máy móc; công khai và cập nhật thông tin về thuốc và chi phí điều trị tại khoa điều trị nội trú; hoàn thiện cơ sở vật chất; cần có cơ chế để Bệnh viện Krông Ana đảm bảo đáp ứng được nhu cầu của những khách hàng KCB không sử dụng thẻ bảo hiểm.  

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi và một số yếu tố liên quan tại 4 xã đặc biệt khó khăn của tỉnh Sơn La năm 2015

Mục tiêu: Nghiên cứu được tiến hành với mục tiêu mô tả tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi và một số yếu tố liên quan tại 4 xã đặc biệt khó khăn của tỉnh Sơn La năm 2015.  Thiết kế nghiên cứu cắt ngang mô tả, trên 244 cặp mẹ - con với con dưới 5 tuổi nhỏ nhất trong gia đình tại 4 xã đặc biệt khó khăn Tân Lang, Mường Cơi, Tà Xùa, Hang Chú của 2 huyện nghèo Phù Yên, Bắc Yên tỉnh Sơn La trong thời gian từ tháng 10/2015 đến tháng 06/2016. Kết quả: Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân là 43,0%, thể thấp còi là 57,8%, thể gầy còm là 11,5%. Cân nặng sơ sinh của trẻ thấp (dưới 2500g), thời điểm cai sữa cho trẻ không đúng có liên quan đến tình trạng suy dinh dưỡng thể nhẹ cân của trẻ dưới 5 tuổi. Tình trạng bà mẹ không khám thai, không uống viên sắt trong quá trình mang thai và trẻ ăn bổ sung dưới 4 nhóm thực phẩm có liên quan giữa tình trạng suy dinh dưỡng thể thấp còi của trẻ dưới 5 tuổi. Thời điểm cai sữa cho trẻ không đúng có liên quan đến tình trạng suy dinh dưỡng thể gầy còm của trẻ dưới 5 tuổi. Kết luận: Tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi ở cả 3 thể đều cao. Bà mẹ không khám thai, không uống sắt, cân nặng sơ sinh thấp, thức ăn bổ sung không đủ dinh dưỡng, cai sữa sớm đều có liên quan đến tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ.  

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Tổn thương da trên bệnh nhân khô da sắc tố ở Việt Nam - Báo cáo loạt ca bệnh

Mục tiêu: Nghiên cứu mô tả tổn thương da và chỉ số cận lâm sàng dựa trên xét nghiệm cơ bản máu, sinh hoá và nước tiểu của các trường hợp chẩn đoán lâm sàng bệnh khô da sắc tố. Phương pháp: Thiết kế nghiên cứu loạt 7 trường hợp khô da sắc tố ở xã Mường Chiềng, huyện Đà Bắc, Hoà Bình tháng 4 năm 2016. Kết quả: cho thấy tổn thương da xuất hiện sớm chỉ từ 1-3 tháng tuổi trên toàn bộ bệnh nhân. Tổn thương đa dạng nhưng không có tổn thương ưng thư bao gồm biến đổi sắc tố da, khô da, teo da và dày sừng ánh sáng ở những vị trí trên cơ thể tiếp xúc với ánh nắng mặt trời. Kết luận: Cần triển khai thêm nghiên cứu về yếu tố nguy cơ mắc bệnh và xác định gen quy định bệnh và di truyền huyết thống. Bệnh nhân cần được phòng tiếp xúc tia cực tím cũng như theo dõi phát hiện, điều trị sớm các tổn thương u da nhằm hạn chế tử vong.  

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Chi phí gói dịch vụ khám yêu cầu cơ xương khớp và gói dịch vụ khám nội chung tại khoa Kiểm tra sức khỏe, Bệnh viện E, năm 2017

Mục tiêu: tính toán chi phí đầy đủ gói dịch vụ khám nội chung (KNC) và gói dịch vụ khám yêu cầu cơ xương khớp (CXK) tại khoa Kiểm tra sức khỏe, Bệnh viện E năm 2017. Phương pháp: nghiên cứu ước tính chi phí đầy đủ dựa trên phương pháp tính chi phí theo hoạt động. Nghiên cứu thực hiện từ tháng 3 đến tháng 8 năm 2017 tại Bệnh viện E. Đối tượng nghiên cứu là 140 khách hàng sử dụng gói dịch vụ khám yêu cầu CXK và 95 khách hàng sử dụng gói dịch vụ KNC. Kết quả: chi phí trung bình 1 lần khám và 1 gói xét nghiệm của gói dịch vụ khám yêu cầu CXK và gói dịch vụ KNC lần lượt là 113.082 đồng và 89.155 đồng, 1.445.132 đồng và 1.363.730 đồng. Chi phí trung bình gói dịch vụ khám yêu cầu CXK và gói KNC là 1.558.214 đồng, 1.452.885 đồng. Chi phí về thuốc, hóa chất, vật tư tiêu hao và nhân lực chiếm tỷ lệ cao nhất, tiếp đến là chi phí sửa chữa, duy tu, cơ sở hạ tầng, máy móc, chi phí thường xuyên khác và chi phí khấu hao trang thiết bị. Chi phí khấu hao cơ sở hạ tầng không đáng kể. Kết luận: giá thu 1 lượt khám đã bao phủ chi phí, giá thu gói xét nghiệm thấp hơn chi phí khi tính đúng tính đủ.  

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Tính khả thi của phương pháp đánh giá độ hiểu và độ tin cậy kiểm tra lại của Bộ công cụ đo lường môi trường làm việc của Cán bộ y tế (COACH) tại Quảng Ninh

Đặt vấn đề và mục tiêu: Bộ công cụ đo lường môi trường làm việc cho cán bộ y tế (COACH - Context Assessment for Community Health) mới được xây dựng nhằm đo lường tác động của các môi trường làm việc trong áp dụng các chăm sóc sức khỏe dựa trên bằng chứng (EBP - Evidence-based practice) của các cán bộ y tế (CBYT). Nghiên cứu này nhằm đánh giá tính khả thi của phương pháp Diễn đạt suy nghĩ thành lời nói (think-aloud) và phương pháp điều tra kiểm tra - kiểm tra lại (test-retest) để đánh giá độ hiểu và độ tin cậy của bộ công cụ COACH thông qua các CBYT tại tỉnh Quảng Ninh, Việt Nam. Phương pháp: Nghiên cứu tiến hành từ tháng 8-11/2014 thông qua: Phương pháp Diễn đạt suy nghĩ thành lời nói thông qua phỏng vấn sâu 16 CBYT tại huyện Quảng Yên; và Điều tra kiểm tra – kiểm tra lại trên 77 CBYT tại 10 trạm y tế của huyện Hoành Bồ, Quảng Ninh. Kết quả và khuyến nghị: Nghiên cứu này cho thấy phương pháp Diễn đạt suy nghĩ thành lời nói và điều tra kiểm tra – kiểm tra lại là phù hợp giúp đánh giá độ hiểu và độ tin cậy của một bộ công cụ. Nên áp dụng các phương pháp này trong các đánh giá về tính giá trị và độ tin cậy của bộ công cụ tại Việt Nam.  

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Thực trạng công tác xã hội trong quản lý thảm họa tại Trung tâm công tác xã hội tỉnh Quảng Ninh, năm 2017

Mục tiêu: Nghiên cứu nhằm tìm hiểu thực trạng công tác xã hội (CTXH) trong quản lý thảm họa (QLTH) tại Trung tâm CTXH tỉnh Quảng Ninh, năm 2017. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu thiết kế định tính, được thực hiện từ tháng 05/2017 – tháng11/2017 với 30 đối tượng bao gồm nhân viên CTXH, lãnh đạo tại Trung tâm CTXH và người dân thuộc nhóm đối tượng yếu thế trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh. Kết quả: Trung tâm CTXH tỉnh Quảng Ninh thực hiện CTXH trong QLTH theo chu trình QLTH dựa vào cộng đồng mới chỉ thông qua các hoạt động: phục hồi, tái thiết, giảm nhẹ, phòng ngừa (trừ cứu trợ). Theo ý kiến của các đối tượng tham gia nghiên cứu, các hoạt động trên chưa thực sự đảm bảo tốt cả về chất lượng và số lượng. Kết luận: CTXH trong QLTH chưa được thực hiện một cách chuyên nghiệp tại Trung tâm CTXH tỉnh Quảng Ninh.  

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Nhu cầu tư vấn thông tin điều trị và một số yếu tố liên quan của bệnh nhân ung thư tại bệnh viện K năm 2017

Mục tiêu: Mô tả nhu cầu tư vấn thông tin điều trị bệnh của bệnh nhân ung thư và tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến nhu cầu tư vấn thông tin điều trị bệnh của bệnh nhân ung thư. Phương pháp nghiên cứu: thiết kế cắt ngang mô tả trên 418 bệnh nhân ung thư tại bệnh viện K năm 2017. Kết quả: bệnh nhân ung thư có nhu cầu được tư vấn các thông tin về điều trị bệnh chiếm tỷ lệ rất cao trên 80%. Các yếu tố nhân khẩu học liên quan có ý nghĩa thống kê giữa nhu cầu tư vấn thông tin tiên lượng bệnh có liên quan với phương pháp điều trị hóa trị ( OR =2,99, CI 95% 1,2 – 7,45); nhu cầu tư vấn thông tin tác dụng phụ của thuốc có liên quan đến phương pháp điều trị hóa trị (OR=2,56, CI 95%, 1,04 – 6,33); nhu cầu tư vấn cách chăm sóc sức khỏe thể chất có liên quan đến trình độ học vấn (OR=13,85, CI 95%, 2,16 – 88,65). Khuyến nghị: Cần có những biện pháp phù hợp hơn để đáp ứng nhu cầu tư vấn thông tin điều trị bệnh của bệnh nhân ung thư đang điều trị tại bệnh viện K đặc biệt là nhóm bệnh nhân đang điều trị hoá trị.  

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến văn hoá an toàn người bệnh tại Bệnh viện đa khoa Nguyễn Đình Chiểu, tỉnh Bến Tre, năm 2017

Mục tiêu: An toàn người bệnh (ATNB) là nền tảng của việc chăm sóc sức khoẻ có chất lượng cao. Mục tiêu của nghiên cứu là mô tả thực trạng và xác định các yếu tố liên quan đến văn hoá ATNB (VHATNB) tại bệnh viện đa khoa Nguyễn Đình Chiểu, tỉnh Bến Tre năm 2017. Phương pháp: Thiết kế nghiên cứu cắt ngang mô tả có phân tích với hình thức phát vấn trên 389 nhân viên y tế (NVYT) của bệnh viện; sử dụng bộ câu hỏi khảo sát ý kiến về VHATNB của Cơ quan nghiên cứu chất lượng và chăm sóc sức khỏe Hoa Kỳ. Kết quả: tỉ lệ đáp ứng của từng yếu tố VHATNB dao động từ 34,7% đến 96,4% và tỉ lệ đáp ứng trung bình của 9 yếu tố khảo sát là 72,5%. NVYT đánh giá mức độ ATNB tại bệnh viện chiếm tỉ lệ cao với 72,2%. Tần suất ghi nhận, báo cáo các sai sót ở mức độ thường xuyên là 59,9% với tỉ lệ NVYT báo cáo sai sót trong 2 năm qua là 11,8%. Nghiên cứu cũng chỉ ra được mức độ ATNB do NVYT đánh giá có mối liên quan có ý nghĩa thống kê tới phần lớn các yếu tố về VHATNB (p<0,05). Khuyến nghị: Cam kết thực hiện VHATNB, đặc biệt là văn hóa “trao đổi cởi mở” và “bàn giao, chuyển tiếp người bệnh”. Xây dựng, cải tiến và thực hiện tốt các giải pháp về ATNB cho nhân viên, nhất là nhóm nhân viên hợp đồng.  

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Công bằng sức khỏe bà mẹ và trẻ em và một số yếu tố ảnh hưởng theo dân tộc ở Việt Nam: kết quả nghiên cứu tổng quan

Mục tiêu: Nghiên cứu này mô tả thực trạng và tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng đến công bằng sức khỏe giữa nhóm người dân tộc thiểu số (DTTS) ở Việt Nam và dân tộc Kinh/Hoa từ hệ thống Pubmed và Cochrane. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tổng quan hệ thống các bài báo được định danh trên hệ thống Pubmed và Cochrane trong giai đoạn 2012 – 2018 về dân tộc thiểu số tại Việt Nam. Kết quả: 27 nghiên cứu đã được đưa vào tổng quan. So với người Kinh/Hoa, bà mẹ DTTS ít sử dụng các dịch vụ khám thai, đẻ tại cơ sở y tế, trẻ em ít được tiêm chủng hơn. Các yếu tố ảnh hưởng đến công bằng sức khỏe được đề cập đến, trong đó có học vấn, kinh tế hộ gia đình, ảnh hưởng của chồng, cộng đồng, gia đình, niềm tin đối với dịch vụ y tế và dịch vụ y tế chưa phù hợp với văn hóa, phong tục tập quán của người dân tộc. Kết luận: Vẫn còn bất công bằng trong sức khỏe bà mẹ, trẻ em giữa nhóm dân tộc Kinh và dân tộc thiểu số. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng dịch vụ sức khỏe bà mẹ, trẻ em trong nhóm DTTS và các yếu tố này tương tác với nhau. Cần có thêm các nghiên cứu về các yếu tố vĩ mô như bối cảnh kinh tế, xã hội, chính sách và thực thi chính sách trong nhóm này.