Mục tiêu: Khảo sát nhận thức, hành vi và nhu cầu đào tạo về trí tuệ nhân tạo (AI) của sinh viên y khoa Trường Đại học Nam Cần Thơ. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, sử dụng bảng hỏi trực tuyến. Thu thập số liệu trên 385 sinh viên y khoa hệ chính quy từ năm thứ nhất đến năm thứ sáu, lấy mẫu thuận tiện tại Trường Đại học Nam Cần Thơ, năm học 2024-2025. Kết quả: Có 92,2% sinh viên từng sử dụng AI trong học tập và 89,1% từng tham gia khóa/hội thảo liên quan đến AI. Nguồn thông tin chính đến từ mạng xã hội (92,5%). Về nhận thức, 55,8% đồng ý AI đang được ứng dụng rộng rãi trong y học và 41,3% tin AI giúp nâng cao hiệu quả học tập - hành nghề. Về hành vi, 61,8% biết cách dùng AI để tóm tắt hoặc ghi chú bài học; 46,2% từng sử dụng AI hỗ trợ phân tích ca lâm sàng. Về nhu cầu, 53,5% mong muốn được đào tạo chính quy và 52,2% sẵn sàng tham gia khóa học nếu có cơ hội. Kết luận: Sinh viên có mức độ tiếp cận cao, nhận thức tích cực và nhu cầu rõ rệt đối với đào tạo AI. Việc tích hợp nội dung AI vào chương trình y khoa là cần thiết nhằm đáp ứng xu hướng chuyển đổi số.
Mục tiêu: Xác định các nhu cầu chăm sóc tinh thần (NCCSTT) của người bệnh sau phẫu thuật tuyến giáp và tìm hiểu một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương năm 2025. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang, được thực hiện trên 216 người bệnh sau phẫu thuật tuyến giáp, kết hợp nghiên cứu định tính trên 8 người bệnh có nhu cầu chăm sóc tinh thần. Dữ liệu được thu thập từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2025 sử dụng thang đo nhu cầu chăm sóc tinh thần tự thiết kế và phỏng vấn sâu có cấu trúc. Kết quả: Nhu cầu chăm sóc tinh thần ở người bệnh sau phẫu thuật tuyến giáp được ghi nhận ở mức khá cao, với nhu cầu được hướng dẫn, giải thích để giảm lo lắng trước khi thực hiện các kỹ thuật chiếm tỷ lệ cao nhất (79,2%), tiếp đến là nhu cầu hỗ trợ để có giấc ngủ ngon (77,3%). Kết quả phân tích hồi quy logistic cho thấy đối tượng có trình độ học vấn cao (p=0,001) và giai đoạn bệnh nặng hơn (p=0,03) có nhu cầu chăm sóc tinh thần cao hơn. Kết quả phỏng vấn sâu đã tìm thấy ba chủ đề chính: nhu cầu được giải tỏa lo âu, nhu cầu được lắng nghe và chia sẻ, và nhu cầu được khích lệ tinh thần. Kết luận: Kết quả về mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa NCCSTT với trình độ học vấn và giai đoạn bệnh nhấn mạnh sự cần thiết của việc cá thể hóa chăm sóc. Các cơ sở y tế nên tăng cường đào tạo cho đội ngũ nhân viên y tế về kỹ năng giao tiếp và đồng cảm, đồng thời điều dưỡng viên cần tích hợp các can thiệp hỗ trợ tâm lý vào quy trình chăm sóc toàn diện, để cải thiện chất lượng sống và hiệu quả điều trị cho người bệnh.
Mục tiêu: Nghiên cứu được thực hiện nhằm mô tả động lực làm việc của nhân viên y tế (NVYT) tại Bệnh viện Đa khoa Medlatec năm 2022-2023. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện tại BVĐK Medlatec năm 2022- 2023. 322 NVYT tham gia nghiên cứu được chọn theo phương pháp chọn mẫu phân tầng và chọn mẫu ngẫu nhiên đơn. Sử dụng phương pháp thống kê mô tả bằng phần mềm SPSS 20.0 để phân tích số liệu. Kết quả: Tỷ lệ NVYT có động lực làm việc tại Bệnh viện Đa khoa Medlatec là 57,8%. Trong đó xét riêng các yếu tố thì Sự tận tâm có tỷ lệ nhân viên y tế có động lực làm việc cao nhất đạt 84,2%, yếu tố Hài lòng với công việc đạt 62,4% và yếu tố Cam kết với tổ chức đạt 51,2%. Kết luận: Nghiên cứu cho thấy động lực làm việc của nhân viên y tế ở mức độ trung bình. Nhìn chung nhân viên y tế có động lực ở một số khía cạnh nhất định, tuy nhiên vẫn còn các yếu tố khiến nhiều nhân viên cảm thấy không hài lòng và bị mất đi động lực làm việc, đặc biệt là Sự tự hào khi làm việc tại Bệnh viện. Điều này cần được Ban Lãnh đạo Bệnh viện quan tâm xem xét và tìm phương án cải thiện.
Mục tiêu: Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến sự gắn kết công việc của điều dưỡng lâm sàng tại Bệnh viện Đa khoa Bà Rịa, Thành phố Hồ Chí Minh năm 2025. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu kết hợp định lượng và định tính được tiến hành tại Bệnh viện Đa khoa Bà Rịa, thời gian thu thập số liệu từ tháng 4/2025 đến tháng 5/2025. Nghiên cứu định lượng sử dụng thang đo gắn kết công việc UWES-9 trên 400 điều dưỡng. Hồi quy đa biến logistics được thực hiện để tìm hiểu mối liên quan giữa GKCV và một số yếu tố cá nhân. Nghiên cứu định tính gồm 04 phỏng vấn sâu với đại diện lãnh đạo và một số phòng/ban, và 03 thảo luận nhóm với 6 điều dưỡng trưởng và 12 điều dưỡng viên nhằm tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng đến sự gắn kết công việc. Kết quả: Khoa/phòng công tác được tìm thấy là yếu tố liên quan đến sự gắn kết công việc của điều dưỡng (p<0,05). Khoa Dịch vụ có mức GKCV cao hơn các khoa/phòng khác. Khối lượng và áp lực công việc cao ảnh hưởng tiêu cực đến gắn kết công việc của điều dưỡng. Mối quan hệ tốt với đồng nghiệp/cấp trên, và chính sách quản lý của bệnh viện có ảnh hưởng tích cực đến gắn kết công việc của điều dưỡng. Kết luận: Nghiên cứu khuyến nghị bệnh viện cần đánh giá lại thực trạng nhân lực và khối lượng công việc của điều dưỡng để có sự điều chỉnh phù hợp; cải thiện chế độ lương, thưởng và phúc lợi theo đặc thù từng khoa/ phòng; xây dựng môi trường làm việc tích cực, hỗ trợ lẫn nhau và phát huy vai trò của đội ngũ điều dưỡng.
Chất lượng điều trị đột quỵ não là mức độ hiệu quả, an toàn và kịp thời của các biện pháp can thiệp y tế nhằm cải thiện sức khỏe cho người bệnh. Hiện có sự khác biệt lớn về chất lượng điều trị đột quỵ não giữa các trung tâm. Nghiên cứu được thực hiện nhằm: Mục tiêu: 1. Mô tả đặc điểm lâm sàng bệnh nhân đột quỵ não vào cấp cứu tại Bệnh Viện Vũng Tàu năm 2025; 2. Đánh giá chất lượng điều trị đột quỵ não tại Bệnh viện Vũng Tàu năm 2025 theo bộ tiêu chí RES-Q. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang sử dụng bộ tiêu chí của RES-Q để đánh giá chất lượng điều trị. Nghiên cứu viên thu thập số liệu tiến cứu theo bộ câu hỏi chuẩn bị sẵn trên 126 bệnh nhân đột quỵ não vào Khoa Cấp cứu Bệnh viện Vũng Tàu từ 01/05/2025 đến 15/07/2025. Kết quả: Tỷ lệ nam chiếm 57,9%; trên 60 tuổi 60,3%; tỷ lệ người bệnh khi có triệu chứng không đến viện mà chờ hồi phục là 46,0%; tỷ lệ sử dụng dịch vụ cấp cứu 115 đến viện là 0,8% và 19,8% số người bệnh đến bệnh viện trong khung thời gian trước 4,5 giờ. Thời gian cửa phim trung bình là 53,4 phút và cửa kim trung bình là 61 phút. Tỷ lệ người bệnh giảm điểm NIHSS khi xuất viện là 46%. Có 3 tiêu chí đạt mức chất lượng vàng gồm tỷ lệ người bệnh có thời gian cửa kim dưới 60 phút, tỷ lệ người bệnh được can thiệp tái thông và tỷ lệ ngưởi bệnh được dùng kháng kết tập tiểu cầu khi xuất viện. Có 2 tiêu chí đạt mức chất lượng bạch kim là tỷ lệ người bệnh có thời gian cửa kim dưới 45 phút, tỷ lệ người bệnh được tầm soát rối loạn nuốt. Các tiêu chí tỷ lệ người bệnh được chụp film CTScan hoặc MRI não, tỷ lệ người bệnh được dùng kháng đông khi xuất viện và tỷ lệ người bệnh được điều trị tại đơn vị đột quỵ chuyên biệt hoặc ICU trong quá trình nằm viện đều đạt 100% và ở mức độ kim cương. Tổng hợp chất lượng điều trị đột quỵ não của Bệnh viện Vũng Tàu trong thời gian nghiên cứu đạt mức vàng. Kết luận: Chất lượng điều trị đột quỵ não của bệnh viện đạt mức chất lượng Vàng theo bộ tiêu chí RES-Q nhưng thời gian cửa-film/cửa-kim còn cao.
Mục tiêu: Mô tả năng lực thực hiện nhiệm vụ của y tế khóm ấp (YTKA) tại 3 phường tỉnh Bạc Liêu năm 2025 và một số yếu tố ảnh hưởng. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp định lượng và định tính được thực hiện từ tháng 7-12/2025 tại 3 phường thuộc tỉnh Bạc Liêu. Nghiên cứu khảo sát 130 YTKA đang công tác tại TYT phường và phỏng vấn sâu 2 Trưởng TYT. Kết quả: Có 52,3% YTKA đạt năng lực thực hiện nhiệm vụ theo Thông tư 27/2023/TT-BYT. Thái độ phục vụ, giao tiếp cộng đồng và kỹ năng ghi chép, báo cáo đạt >70,0%, năng lực thực hành CSSK cơ bản chỉ đạt 50,8%. Từ phân tích, giới tính nữ và việc được đào tạo có mối liên quan với năng lực thực hiện nhiệm vụ chung của YTKA (p<0,05). Các khó khăn gồm thiếu đào tạo định kỳ, hạn chế về kỹ năng thực hành, phụ cấp thấp và thiếu phương tiện hỗ trợ. Kết luận: Hoạt động YTKA mạnh về truyền thông nhưng yếu về thực hành CSSK cơ bản. Cần đào tạo liên tục và có chính sách hỗ trợ phù hợp để nâng cao hiệu quả hoạt động của YTKA trong CSSK ban đầu.
Mục tiêu: Phân tích kết quả thực hiện 5S và một số yếu tố ảnh hưởng tại Trung tâm Khám chữa bệnh chất lượng cao, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Thọ năm 2025. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu kết hợp định lượng và định tính. Phương pháp nghiên cứu định lượng thực hiện trước, đối tượng là hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị của Trung tâm gồm: khu vực xe tiêm, khu vực tủ thuốc, tủ vật tư, buồng bệnh, phòng khám, phòng hành chính, kho, cỡ mẫu định lượng là 72 lượt quan sát tại 4 khoa. Phương pháp nghiên cứu định tính thực hiện sau nhằm bổ sung cho nghiên cứu định lượng với 11 cuộc phỏng vấn sâu, 01 cuộc thảo luận nhóm, đối tượng là đại diện lãnh đạo bệnh viện, phòng Điều dưỡng, phòng Quản lý chất lượng; đại diện cán bộ quản lý, nhân viên tại 4 khoa thuộc Trung tâm. Kết quả: Kết quả thực hiện 5S toàn Trung tâm là 3,2/5 điểm (xếp loại chưa tốt). Trong đó, S3 (sạch sẽ) đạt 3,86/5 điểm, S2 (sắp xếp) 3,10/5 điểm, S1 (sàng lọc) là 3,28/5 điểm; điểm S4 (săn sóc) và S5 (sẵn sàng) là thấp nhất, cùng đạt 2,88/5 điểm. Khoa Nội yêu cầu có điểm trung bình cao nhất với 3,28 điểm; khoa Hồi sức tích cực, chống độc yêu cầu có điểm trung bình thấp nhất 3,07 điểm. Một số yếu tố ảnh hưởng tích cực như nhân lực tại trung tâm trẻ, năng động; sự quyết tâm triển khai 5S của ban giám đốc. Một số yếu tố ảnh hưởng chưa tích cực: thiếu Ban chỉ đạo 5S, cơ sở vật chất xuống cấp, công tác đào tạo, giám sát chưa thường xuyên và thiếu cơ chế khuyến khích thực hiện 5S. Kết luận: Điểm trung bình chung 5S của hầu hết các khoa chưa tốt và thấp nhất tại bước chuẩn hoá (S4) và duy trì (S5). Trong triển khai 5S, hai bước S4 và S5 quyết định tính bền vững lâu dài của việc thực hiện 5S. Khi 2 điểm S4 và S5 thấp, hệ thống 5S thường không duy trì được sau giai đoạn triển khai ban đầu, 2 bước đầu không tốt sẽ không có “hệ thống” để duy trì việc thực hiện. Để tăng cường hoạt động 5S, bệnh viện nên thành lập Ban chỉ đạo 5S, tăng cường đào tạo, giám sát và có chế độ khuyến khích thực hiện 5S, xây dựng văn hóa 5S để 2 bước S4 và S5 triển khai đạt hiệu quả.
Mục tiêu : Phân tích mối liên quan của táo bón đến một số lĩnh vực đời sống và nhu cầu điều trị của sinh viên Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên. Phương pháp nghiên cứu : Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 776 sinh viên từ năm thứ 1 đến năm thứ 6 trong năm 2025. Táo bón chức năng được chẩn đoán theo tiêu chuẩn Rome IV. Thông tin về sức khoẻ thể chất và về sức khoẻ tinh thần được thu thập bằng bộ câu hỏi SF-36. Số liệu được xử lý bằng SPSS 22.0, so sánh các tỷ lệ với ngưỡng ý nghĩa p < 0,05. Kết quả : Tỷ lệ táo bón là 7,0%. Tuổi trung bình của nhóm táo bón là 24,3 ± 6,4, không khác biệt về giới và BMI so với nhóm không táo bón (p > 0,05). Sinh viên năm 4–6 chiếm 85,2% số trường hợp táo bón, cao hơn có ý nghĩa so với nhóm năm 1–3 (p < 0,05). Táo bón có liên quan đến học tập (20,4%; p = 0,04), sức khỏe tinh thần (31,5%; p = 0,03) và sức khỏe thể chất (33,3%; p = 0,003). Không ghi nhận sự khác biệt về tỷ lệ nứt hậu môn và bệnh trĩ giữa hai nhóm (p > 0,05). Chỉ 29,6% sinh viên táo bón có nhu cầu điều trị. Kết luận : Táo bón ở sinh viên y dược Thái Nguyên có tỷ lệ thấp nhưng có liên quan đến học tập, sức khỏe tinh thần, thể chất, trong khi nhu cầu điều trị còn thấp.
Mục tiêu: Mô tả thực trạng tuân thủ vệ sinh tay thường quy (VSTTQ) của điều dưỡng tại các khoa lâm sàng, Bệnh viện Ung Bướu Hà Nội năm 2022 và xác định một số yếu tố ảnh hưởng. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu kết hợp định lượng và định tính được thực hiện từ tháng 6 đến tháng 11 năm 2022. Nghiên cứu định lượng được tiến hành trên toàn bộ 133 điều dưỡng tại 11 khoa lâm sàng, với 266 cơ hội VSTTQ được quan sát. Nghiên cứu định tính gồm 3 cuộc phỏng vấn sâu các bên liên quan và 2 cuộc thảo luận nhóm với điều dưỡng. Kết quả: Tỷ lệ điều dưỡng tuân thủ đầy đủ quy trình 6 bước VSTTQ đạt 45,2%. Tỷ lệ tuân thủ VSTTQ chung của điều dưỡng là 35,3%. Tuổi và thâm niên công tác của điều dưỡng có liên quan đến tuân thủ VSTTQ (p<0,05). Tính đầy đủ và thuận tiện của cơ sở vật chất, điều dưỡng được tham gia tập huấn và cơ chế thi đua khen thưởng có ảnh hưởng tích cực đến việc tuân thủ VSTTQ. Sự quá tải công việc và hạn chế trong hoạt động giám sát làm giảm hiệu quả tuân thủ VSTTQ. Kết luận: Tỷ lệ tuân thủ VSTTQ chung của điều dưỡng còn thấp. Cơ sở vật chất đầy đủ, tập huấn và cơ chế khen thưởng tăng cường việc tuân thủ VSTTQ, trong khi quá tải công việc và hạn chế giám sát làm giảm mức độ tuân thủ. Bệnh viện cần đánh giá lại khối lượng công việc để có điều chỉnh phù hợp và tăng cường công tác giám sát để nâng cao việc tuân thủ của điều dưỡng.
Mục tiêu: Mô tả điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm và phân tích một số yếu tố ảnh hưởng tại bếp ăn tập thể (BATT) các trường học ở thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình năm 2023. Phương pháp: Nghiên cứu kết hợp định lượng và định tính được thực hiện từ tháng 6/2022 đến tháng 7/2023. Nghiên cứu định lượng thực hiện tại 47 BATT trường học bằng hình thức quan sát có sử dụng bảng kiểm. Nghiên cứu định tính gồm 13 cuộc phỏng vấn sâu với các bên liên quan. Kết quả: Tỷ lệ các trường có BATT đạt điều kiện an toàn thực phẩm là 82,9%. Các yếu tố ảnh hưởng tích cực đến điều kiện an toàn thực phẩm tại BATT gồm trình độ, kinh nghiệm và kiến thức của người chế biến; công tác quản lý của nhà trường; và hoạt động hướng dẫn, kiểm tra, giám sát của cơ quan quản lý nhà nước. Việc xử phạt vi phạm chưa đủ tính răn đe có ảnh hưởng tiêu cực đến điều kiện an toàn thực phẩm tại các BATT. Kết luận: Điều kiện an toàn thực phẩm tại BATT các trường học ở thành phố Đồng Hới nhìn chung đạt mức tương đối cao; tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế cần được cải thiện, đặc biệt liên quan đến con người và công tác quản lý
Mục tiêu: Nghiên cứu nhằm mô tả kiến thức, thực hành hồi sinh tim phổi của điều dưỡng đang công tác tại Bệnh viện đa khoa Hùng Vương, Phú Thọ năm 2025. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 224 điều dưỡng đang công tác tại Bệnh viện đa khoa Hùng Vương, Phú Thọ, từ tháng 7 đến tháng 8 năm 2025. Thông tin về kiến thức hồi sinh tim phổi của đối tượng được thu thập qua bộ câu hỏi tự điền, được xây dựng dựa trên hướng dẫn hồi sinh tim phổi của Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ (AHA) và được đánh giá tính giá trị nội dung (Content validity) với 24 chuyên gia trong lĩnh vực hồi sức (có kinh nghiệm trên 5 năm trong lĩnh vực). Thực hành hồi sinh tim phổi được đánh giá thông qua quan sát đối tượng thực hiện trên hệ thống Kiosk-HSTP đã được cấp bằng sáng chế, với điểm số và các chỉ số kỹ thuật được hệ thống tự động ghi nhận sau 30 giây thực hành. Số liệu được nhập và làm sạch bằng phần mềm EpiData 3.1, phân tích bằng phần mềm STATA 16.0, được mô tả bằng giá trị trung bình, tần số và tỷ lệ. Kết quả: Phần lớn đối tượng nghiên cứu có kiến thức về hồi sinh tim phổi ở mức trung bình trở lên (58,9%). Mức độ kiến thức hồi sinh tim phổi có sự khác biệt giữa các khoa công tác, với tỷ lệ kiến thức tốt cao nhất ghi nhận tại Khoa Gây mê hồi sức cấp cứu (39,7%) và thấp nhất tại Khoa Phụ sản (1,4%). Tuy nhiên, tỷ lệ đối tượng có thực hành hồi sinh tim phổi đạt yêu cầu còn rất thấp (16,1%) và cũng có sự khác biệt giữa các khoa; Khoa Gây mê hồi sức cấp cứu đạt tỷ lệ cao nhất (33,3%), trong khi Khoa Nội tổng hợp ghi nhận tỷ lệ thấp nhất (2,8%). Kết luận: Tỷ lệ đối tượng có kiến thức hồi sinh tim phổi ở mức trung bình trở lên chiếm ưu thế, tuy nhiên tỷ lệ thực hành đạt yêu cầu vẫn còn thấp, cho thấy khoảng cách đáng kể giữa kiến thức và khả năng áp dụng vào thực hành. Do đó, bệnh viện cần tăng cường đào tạo thực hành hồi sinh tim phổi định kỳ dựa trên mô phỏng, tổ chức diễn tập tình huống tại đơn vị lâm sàng và chuẩn hóa quy trình theo các khuyến cáo cập nhật. Đồng thời, thiết lập cơ chế đánh giá năng lực thường xuyên và cải tiến chất lượng liên tục nhằm thu hẹp khoảng cách giữa lý thuyết và thực hành, nâng cao hiệu quả xử trí ngừng tuần hoàn.
Mục tiêu : Đánh giá kết quả điều trị và phân tích yếu tố liên quan đến kết quả điều trị hội chứng suy hô hấp (HCSHH) ở trẻ sơ sinh non tháng năm 2024-2025. Phương pháp nghiên cứu: 83 trẻ sơ sinh non tháng dưới 37 tuần được chẩn đoán HCSHH theo tiêu chuẩn Bộ Y tế được theo dõi từ khi nhập viện đến khi xuất viện hoặc tử vong tại khoa Nhi Sơ sinh – Bệnh viện đa khoa trung tâm tỉnh Gia Lai trong khoảng thời gian từ 5/2024 đến 5/2025. Số liệu được nhập và phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0 Kết quả : Trẻ có tuổi thai < 32 tuần (62,7%) và cân nặng lúc sinh < 1500 gam (42,1%). Có 22,9% trẻ HCSHH cần chỉ định surfactant. Tỷ lệ trẻ tử vong là 6,0%. Các biến chứng được ghi nhận bao gồm 16,9% bị loạn sản phế quản phổi; 6,3% bị bệnh võng mạc trẻ đẻ non, xuất huyết não-màng não 3,6% và viêm ruột hoại tử 4,8%. Các yếu tố liên quan đến tử vong gồm: tuổi thai < 28 tuần, cân nặng lúc sinh < 1000 gam, Apgar 5 phút < 7 điểm và HCSHH cần chỉ định surfactant (p < 0,05). Yếu tố liên quan đến biến chứng loạn sản phế quản phổi ở trẻ có HCSHH bao gồm: tuổi thai < 28 tuần, cân nặng lúc sinh < 1000 gam, HCSHH cần chỉ định surfactant, có thở máy, còn ống động mạch, thở NCPAP dài ngày (p<0,05). Các yếu tố liên quan biến chứng bệnh lý võng mạc ở trẻ sinh non có HCSHH bao gồm: cân nặng lúc sinh < 1000 gam, nhiễm khuẩn huyết, thời gian thở NCPAP ≥ 14 ngày (p<0,05). Kết luận: Điều trị hội chứng suy hô hấp ở trẻ sơ sinh non tháng tại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm tỉnh Gia Lai đạt tỷ lệ sống cao. Liên quan tử vong và biến chứng chủ yếu gặp ở trẻ có tuổi thai dưới 28 tuần, cân nặng lúc sinh dưới 1000 gam và cần hỗ trợ hô hấp kéo dài.
Mục tiêu: Phân tích mối liên quan giữa các đặc điểm lâm sàng, hóa sinh và các chỉ số hồng cầu trên người bệnh (NB) ung thư biểu mô tế bào gan có nhiễm HBV mạn tính (UTGB). Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang tại Bệnh viện Quân y 103, Học viện Quân y và Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 từ 05/2024 đến 05/2025 trên NB được chẩn đoán xác định UTGB (n=100). Kết quả: Các chỉ số hồng cầu thấp hơn ở nhóm UTGB có di căn và huyết khối tĩnh mạch cửa, p<0,01, nhưng không khác biệt theo phân nhóm số lượng, hình thái và kích thước u. Các chỉ số hồng cầu có tương quan nghịch mức yếu với các chỉ số tổn thương gan mật như GOT, billirubin toàn phần/trực tiếp (r~ -0,3; p<0,005), và tương quan thuận mức trung bình với nồng độ albumin huyết tương (r~ -0,56; p<0,0001). Hơn nữa, các chỉ số hồng cầu có tương quan nghịch mức vừa với tỷ lệ De Ritis. Tỷ lệ De Ritis ở nhóm có giảm chỉ số hồng cầu cao hơn nhóm không giảm (p<0,005). Kết luận: Thiếu máu liên quan thuận với di căn, huyết khối tĩnh mạch cửa và các chỉ điểm hóa sinh tổn thương gan mật ở NB UTGB.
Mục tiêu: Mô tả và phân tích mối liên quan giữa một số chỉ số xét nghiệm huyết học với biến chứng tăng huyết áp ở bệnh nhân bệnh thận mạn (BTM) giai đoạn 5 tại Bệnh viện Đa khoa Hợp Lực, tỉnh Thanh Hóa, giai đoạn 2023 – 2024. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang, dựa trên hồ sơ bệnh án của 114 người bệnh thận mạn giai đoạn 5. Kết quả: Tỷ lệ bệnh nhân (BN) có giảm số lượng hồng cầu (RBC) là 93,86%, giảm lượng huyết sắc tố (HGB) là 98,25%, giảm hematocrit (HCT) là 98,25%, MCV tăng đạt 51,8%, MCHC < 320 g/L là 86,8%, giảm số lượng tiểu cầu (PLT) là 19,3%. Tỷ lệ BN tăng huyết áp (THA) chiếm 59,6%, thiếu máu chiếm 98,25%. Tỷ lệ thiếu máu hồng cầu nhỏ là 2,68%, thiếu máu hồng cầu to là 30,36%, thiếu máu hồng cầu kích thước bình thường là 66,96%. Nguy cơ THA của nhóm có MCV < 95 fL cao gấp 2.196 lần so với nhóm có MCV ≥ 95 fL. Kết luận: Thiếu máu là triệu chứng phổ biến ở bệnh nhân bệnh thận mạn giai đoạn 5, với ưu thế là thiếu máu mức độ nhẹ và vừa, hồng cầu bình sắc, kích thước bình thường. THA độ 1 là phổ biến nhất. Nguy cơ THA áp của nhóm có MCV < 95 fL cao gấp 2.196 lần so với nhóm có MCV ≥ 95 fL.
Mục tiêu: Tổng quan quy định pháp luật quốc tế và đánh giá tác động của chính sách cấm trưng bày thuốc lá tại điểm bán, đề xuất khuyến nghị chính sách cho Việt Nam. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tổng quan luận điểm theo hướng dẫn PRISMA, sử dụng tài liệu thứ cấp của Tổ chức Y tế thế giới, cơ sở dữ liệu pháp luật của tổ chức Campaign for Tobacco-Free Kids và 21 nghiên cứu bằng tiếng Anh được phân tích bằng phương pháp tổng hợp tường thuật. Kết quả: Trưng bày thuốc lá tại điểm bán làm tăng nhận diện thương hiệu, kích thích thử hút và mua thuốc lá ngoài dự kiến, đặc biệt ở thanh thiếu niên. Tính đến năm 2024, 59 quốc gia áp dụng chính sách cấm trưng bày thuốc lá tại điểm bán. Sau khi triển khai, nhiều quốc gia đã ghi nhận giảm đáng kể tình hình phơi nhiễm với quảng cáo thuốc lá, giảm tỷ lệ thử hút ở thanh thiếu niên, hỗ trợ cai thuốc lá ở người trưởng thành. Không có bằng chứng rõ ràng về tác động tiêu cực đáng kể, lâu dài đối với ngành bán lẻ. Kết luận: Xem xét bổ sung chính sách cấm trưng bày thuốc lá tại điểm bán trong quá trình sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá vào năm 2026.
Mục tiêu: Mô tả thực trạng tuân thủ bảng kiểm an toàn phẫu thuật mổ lấy thai tại Bệnh viện Hùng Vương năm 2023 và một số yếu tố ảnh hưởng. Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng phương pháp kết hợp giữa định lượng và định tính: phần định lượng sử dụng thiết kế cắt ngang; phần định tính sử dụng thiết kế nghiên cứu hiện tượng học. Nghiên cứu định lượng tiến hành 190 ca mổ tại khoa Phẫu thuật-gây mê hồi sức (PT-GMHS) kết hợp phỏng vấn sâu 1 lãnh đạo bệnh viện, 1 lãnh đạo các Khoa/Phòng có liên quan, 2 phó khoa PT-GMHS và thảo luận nhóm 2 ê kíp mổ. Kết quả: Tỉ lệ tuân thủ bảng kiểm an toàn phẫu thuật tại Bệnh viện Hùng Vương năm 2023 đạt 83,2%. Trong đó, giai đoạn trước khi gây mê/gây tê và trước khi rạch da có tỉ lệ tuân thủ cao (90,0% và 94,2%), trước khi rời phòng mổ thấp nhất (89%). Các yếu tố ảnh hưởng đối với nhân viên: phẫu thuật viên chính tuân thủ kém hơn, nhân viên có thái độ tích cực đối với bảng kiểm; đối với khoa PT-GMHS: phân công rõ ràng giúp tăng tuân thủ, thời gian ca mổ cấp cứu làm giảm tuân thủ; đối với bệnh viện: tập huấn, giám sát cùng cơ chế khen thưởng–xử phạt góp phần cải thiện tuân thủ). Kết luận: Tỉ lệ tuân thủ bảng kiểm an toàn mổ lấy thai tại Bệnh viện Hùng Vương khá tốt. Cần phát huy hoạt động kiểm tra thiết bị và điều phối nhân lực, tập huấn, khen thưởng, xử phạt và xây dựng bảng kiểm cụ thể hơn trong những trường hợp cấp cứu để nâng cao sự tuân thủ.
Mục tiêu: Phân tích thực trạng hoạt động phòng, chống bệnh sởi và một số thuận lợi, khó khăn tại Trung tâm Y tế khu vực Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh năm 2024. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu kết hợp định lượng và định tính, thu thập số liệu từ tháng 05/2025 đến tháng 07/2025 tại Trung tâm Y tế khu vực quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh. Vật liệu nghiên cứu định lượng gồm hồ sơ, báo cáo, biên bản giám sát, số liệu từ phần mềm và các văn bản liên quan đến công tác phòng, chống bệnh sởi, cùng dữ liệu trích xuất từ hệ thống quản lý của Sở Y tế. Đối tượng nghiên cứu định tính gồm đại diện Ban Giám đốc, cán bộ các phòng/khoa liên quan, Trưởng TYT, nhân viên phụ trách phòng chống dịch và các bà mẹ có con dưới 5 tuổi. Kết quả: Tỷ lệ tiêm chủng sởi - rubella ở trẻ dưới 5 tuổi trên 96%. Trong năm 2024 đã phát hiện tổng cộng 132 ca mắc sởi, 12 ổ dịch và 100% ca bệnh, ổ dịch được xử lý đúng quy định. Hoạt động truyền thông phòng chống dịch được triển khai đa dạng, kết hợp hình thức trực tiếp và truyền thông số, giúp nâng cao khả năng tiếp cận thông tin. Ứng dụng công nghệ thông tin qua các hệ thống quản lý bệnh và tiêm chủng quốc gia góp phần rút ngắn thời gian báo cáo và cải thiện quản lý dữ liệu. Tuy nhiên, khó khăn vẫn tồn tại như biến động dân cư, thiếu đồng bộ dữ liệu, hạn chế nhân lực và thiếu vắc xin cục bộ. Kết luận: Trung tâm Y tế cần tăng cường quản lý và cập nhật danh sách đối tượng tiêm chủng di biến động; bổ sung dữ liệu từ cơ sở tư nhân; mở rộng tiếp cận cộng đồng qua chính quyền và cộng tác viên; đồng thời tập huấn nâng cao kỹ năng phòng chống dịch và giảm sai sót khai báo ca bệnh.
Mục tiêu: Khảo sát sự hài lòng và thay đổi chi phí liên quan lọc máu ở người bệnh lọc máu định kỳ tại Trung tâm Y tế huyện Cần Giờ. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 33 người bệnh suy thận mạn giai đoạn cuối đang lọc máu định kỳ tại đơn vị Thận nhân tạo, Trung tâm Y tế huyện Cần Giờ từ tháng 3/2025 đến tháng 9/2025. Sự hài lòng được đánh giá theo bộ câu hỏi chuẩn của Bộ Y tế Việt Nam năm 2019. Kết quả: Đa số người bệnh là nữ (75,8%), tuổi trung bình 55,8±14,8 tuổi. Điểm hài lòng chung trung vị đạt 4,8/5,0; tỷ lệ hài lòng chung 96%; chỉ số hài lòng toàn diện 76,5%. Chi phí lọc máu trực tiếp giảm 50% (trung vị giảm 2,5 triệu đồng/tháng, p<0,001), chi phí di chuyển giảm 50% (trung vị giảm 1,5 triệu đồng/tháng, p<0,001), thời gian di chuyển giảm trung vị 75 phút (p<0,001). Kết luận: Mô hình đơn vị lọc máu vệ tinh tại huyện Cần Giờ mang lại hiệu quả tích cực về sự hài lòng và giảm đáng kể gánh nặng kinh tế cho người bệnh lọc máu định kỳ.