Mục tiêu: Bài tổng quan được tiến hành nhằm tìm hiểu một số giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu của ngành y tế trên thế giới và khả năng áp dụng tại Việt Nam trong thời gian tới. Phương pháp tìm kiếm và tổng quan tài liệu: Bài báo tổng quan các thông tin khoa học từ các nghiên cứu được công bố trên cơ sở dữ liệu Pubmed, ScienceDirect, Google Scholar và một số trang web chính thống. Kết quả: Các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu của ngành y tế các nước trên thế giới tập trung vào 6 nhóm giải pháp chính, bao gồm các giải pháp về: Tổ chức, cơ chế, chính sách; xây dựng năng lực; thực tiễn, hành vi; nghiên cứu; xây dựng hệ thống cảnh báo sớm, hệ thống quan trắc và lập bản đồ; và phối hợp liên ngành, hợp tác quốc tế. Kết luận: Các nhóm giải pháp được ngành y tế trên thế giới áp dụng rất đa dạng, tuy nhiên vẫn còn tồn tại một số khó khăn khi áp dụng, đặc biệt ở những quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam.
Mục tiêu: Mô tả sử dụng điện thoại, nghiện điện thoại thông minh (ĐTTM) và xác định mối liên quan giữa các yếu tố dân số học, thời gian sử dụng với nghiện ĐTTM ở sinh viên trường Cao đẳng Y tế Đồng Tháp. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang có phân tích, kết hợp định tính, tại trường Cao đẳng Y tế Đồng Tháp, từ tháng 01/2017 - 9/2017. Đối tượng là toàn bộ sinh viên chính quy Trường Cao đẳng Y tế Đồng Tháp. Kết quả: Có 939 sinh viên tham gia nghiên cứu, tỷ lệ sinh viên sử dụng ĐTTM 93,1%, tỷ lệ sinh viên nghiện ĐTTM là 42,3%. Sinh viên nam có khả năng nghiện ĐTTM cao gấp 1,76 lần so với sinh viên nữ (OR: 1,76; KTC 95%: 1,26-2,45) và những sinh viên có thời gian sử dụng ĐTTM lâu hơn có nguy cơ nghiện ĐTTM cao gấp 1,86 lần so với những sinh viên có thời gian sử dụng ĐTTM ít hơn (OR: 1,86; KTC 95%: 1,22-2,84). Sử dụng mô hình phân tích hồi quy logistic đa biến, kết quả cho thấy chỉ có giới tính và thời gian bắt đầu sử dụng ĐTTM là hai yếu tố độc lập có liên quan đến nghiện ĐTTM (p<0,05). Kết luận: Tỷ lệ sinh viên nghiện ĐTTM là 42,3%. Giới tính và thời gian sử dụng ĐTTM là các yếu tố liên quan đến nghiện ĐTTM.
Mục tiêu: Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá chất lượng cuộc sống (CLCS) người bệnh tâm thần phân liệt (TTPL) đã điều trị ổn định tại Bệnh viện Tâm thần Đồng Tháp năm 2015. Phương pháp nghiên cứu: với thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, cỡ mẫu là 110 người bệnh TTPL đã điều trị ổn định tại Bệnh viện Tâm thần Đồng Tháp. Công cụ thu thập số liệu là bộ câu hỏi soạn sẵn với phương pháp thu thập số liệu là phỏng vấn người bệnh. Kết quả nghiên cứu: cho thấy CLCS của người bệnh TTPL là ở mức 3,48/5 điểm, trong đó điểm CLCS khía cạnh môi trường thấp nhất và sức khoẻ chung là cao nhất. Một số yếu tố liên quan đến CLCS của người bệnh TTPL như giới tính, tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp, hoàn cảnh sống, khả năng tài chính, triệu chứng âm tính (thể hiện các tiêu hao mất mát trong hoạt động tâm thần), dương tính (thể hiện những biến đổi bệnh lý phong phú, cơ động và đa dạng trong hoạt động tâm thần) và hội chứng ngoại tháp. Kết luận: CLCS của người bệnh TTPL đã ổn định là ở mức khá và có liên quan đến một số yếu tố cá nhân (giới tính, tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp..) cũng như đặc điểm bệnh lý (hội chứng ngoại tháp, các triệu chứng tâm thần).
Mục tiêu: Nghiên cứu được thực hiện nhằm mô tả chất lượng cuộc sống (CLCS) và tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến CLCS của người cao tuổi (NCT) tại thị xã An Nhơn tỉnh Bình Định năm 2017. Phương pháp nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu là NCT từ 60 tuổi trở lên. CLCS của NCT được đánh giá thông qua bộ công cụ WHOQOL-100 gồm 65 câu hỏi. Cuộc điều tra được thực hiện trên 334 NCT thuộc 5 xã, phường thuộc thị xã An Nhơn. Kết quả: Kết quả cho thấy điểm CLCS trung bình chung của NCT là 222,47/325 điểm, tương đương 6,9/10 điểm. Điểm CLCS khía cạnh môi trường sống đạt cao nhất với 7,6/10 điểm và thấp nhất là điểm khía cạnh kinh tế với 6,3/10 điểm. Tuổi càng cao điểm CLCS càng giảm, nhóm NCT là nam giới có điểm CLCS cao hơn nữ giới. Mô hình hồi quy đa biến cho thấy NCT trước đây có nghề làm ruộng có điểm CLCS thấp hơn so với NCT trước đây làm các nghề khác, NCT không mắc bệnh mãn tính nào có điểm CLCS cao hơn NCT có bệnh mãn tính. Kết luận: Tác giả đề xuất chính sách địa phương trong việc nâng cao CLCS NCT và chiến lược dài hạn trong vấn đề chăm lo cho người cao tuổi với mô hình chăm sóc tập trung.
Mục tiêu: Nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định mức độ tái hòa nhập và một số yếu tố ảnh hưởng đến sự tái hòa nhập cộng đồng (HNCĐ) của bệnh nhân phong đã được điều trị. Phương pháp nghiên cứu: Thiết kế mô tả cắt ngang phân tích, thực hiện trên toàn bộ 165 bệnh nhân phong đã được điều trị tại tỉnh Lâm Đồng thông qua bộ câu hỏi đánh giá HNCĐ ACPQ đã được chuẩn hóa tại Việt Nam. Nghiên cứu sử dụng 38 trong 44 câu hỏi của bộ công cụ, trong đó 24 câu đánh giá mức độ hòa nhập với 5 mức độ được tính điểm từ 1 đến 5. Tổng điểm cao nhất là 120, và nghiên cứu sử dụng điểm cắt 50% - nghĩa là tổng điểm dưới 60 được xem là “không hòa nhập cộng đồng”. Kết quả: Nghiên cứu đã cho thấy có đến 74,5% người bệnh không HNCĐ. Các yếu tố liên quan đến tình trạng không HNCĐ của bệnh nhân bao gồm nữ giới (OR=2,7 KTC95%: 1,21-6,62), dân tộc thiểu số (OR=2,1 KTC95%: 0,94-4,54), trình độ học vấn thấp (OR=3 KTC95%: 1,25-7,24), không có nghề nghiệp (OR=2,5 KTC95%: 1,12-5,58), hộ gia đình nghèo (OR=3,5 KTC95%: 1,49-8,57), và có nhu cầu hỗ trợ kinh tế (OR=3,5 KTC95%: 1,47-8,9) và vật lý trị liệu (OR=2,6 KTC95%: 1,04-6,39) cũng như sự tự kỳ thị của bệnh nhân (OR=2,2 KTC95%: 0,99-4,68). Kết luận: Các nỗ lực cải thiện sự HNCĐ của bệnh nhân phong cần tập trung vào các nhóm bệnh nhân yếu thế như người dân tộc nghèo, không có việc làm, trình độ học vấn thấp, cũng như cần tập trung truyền thông về bệnh để giảm sự kỳ thị của xã hội và chính bản thân bệnh nhân.
Mục tiêu: mô tả nhận thức, thái độ, thực hành về văn hóa an toàn người bệnh (VHATNB) và xác định một số yếu tố ảnh hưởng tới VHATNB tại Trung tâm Y tế (TTYT) huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp năm 2018. Phương pháp: Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, sử dụng phương pháp kết hợp định lượng và định tính. Thời gian thực hiện từ tháng 3-6/2018 tại TTYT huyện Lai Vung. Bộ câu hỏi của tổ chức Nghiên cứu chất lượng và sức khỏe Hoa Kỳ (AHRQ) đo lường 12 lĩnh vực về VHATNB được sử dụng để thu thập số liệu định lượng từ 142 nhân viên y tế (NVYT); Các hướng dẫn bán cấu trúc được sử dụng để thu thập số liệu định tính từ 07 cuộc phỏng vấn sâu (PVS) và 02 cuộc thảo luận nhóm (TLN). Kết quả: Tỷ lệ đáp ứng tích cực của NVYT thấp nhất là 41% với hành xử không buộc tội khi có sai sót và cao nhất là 95% với làm việc nhóm trong khoa. Kết quả PVS và TLN cho thấy vấn đề về hệ thống và quản lý, NVYT và người bệnh là những yếu tố có những ảnh hưởng quan trọng tới VHATNB. Kết luận: VHATNB cần phải được nhấn mạnh trong mọi quy định và hoạt động của TTYT. Nội dung đào tạo về ATNB phải được đưa vào chương trình đào tạo hằng năm cho các nhân viên của TTYT. TTYT cần thúc đẩy thực hiện cơ chế “giám sát chủ động về ATNB” với sự tham gia của tất cả NVYT. Vấn đề hành xử không buộc tội đối với các sự cố cần được xem như nguyên tắc hàng đầu khi xử lý sự cố nhằm khuyến khích NVYT báo cáo sự cố từ đó nhằm cải thiện chất lượng và đảm bảo ATNB.
Mục tiêu: Mô tả công tác chăm sóc người bệnh (NB) cần chăm sóc cấp I của điều dưỡng viên (ĐDV) và mô tả một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác chăm sóc NB cần chăm sóc cấp I tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Lạng Sơn năm 2018. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang kết hợp định lượng và định tính từ tháng 3 đến tháng 6/2018, với cỡ mẫu là 130 NB chăm sóc cấp I đủ tiêu chuẩn tham gia nghiên cứu và lãnh đạo bệnh viện, lãnh đạo khoa, phòng, điều dưỡng trưởng và ĐDV tham gia để tìm hiểu yếu tố ảnh hưởng. Kết quả: Tỷ lệ NB được ĐDV thực hiện hỗ trợ tâm lý, tinh thần đạt 85,38%; Theo dõi, đánh giá NB đạt 76,92%; Thực hiện hỗ trợ ăn uống đạt 63,08%; Tư vấn, hướng dẫn giáo dục sức khỏe đạt 54,62%; Hỗ trợ điều trị và phối hợp thực hiện y lệnh 44,62%; Hỗ trợ tập phục hồi chức năng sớm 48,46%; Hỗ trợ chăm sóc vệ sinh chỉ đạt 29,23%. Nghiên cứu định tính cho thấy một số yếu tố: khối lượng công việc ngoài giờ, ngày nghỉ; quy chế khen thưởng, xử phạt; công tác kiểm tra giám sát; đào tạo điều dưỡng; sự phối hợp với các đồng nghiệp có ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc NB cấp I của ĐDV. Kết luận: Công tác điều dưỡng thực hiện hỗ trợ tâm lý, tinh thần đạt tốt nhất là 85,38%; công tác hỗ trợ chăm sóc vệ sinh đạt thấp. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng: khối lượng công việc ngoài giờ, ngày nghỉ; quy chế khen thưởng, xử phạt; công tác kiểm tra giám sát; đào tạo điều dưỡng; sự phối hợp với các đồng nghiệp có ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc NB cấp I của điều dưỡng. Khuyến nghị: Đối với phòng điều dưỡng: Cần tăng cường kiểm tra, giám sát chú trọng công tác vệ sinh, hỗ trợ điều trị, phục hồi chức năng; tổ chức đào tạo cho ĐDV bằng nhiều hình thức để nâng cao chất lượng chăm sóc NB. Đối với khoa lâm sàng: Cần nâng cao năng lực quản lý, kiểm tra, giám sát của điều dưỡng trưởng khoa, đảm bảo công tác chăm sóc đúng qui định, hiệu quả, chất lượng.
Mục tiêu: Nghiên cứu được thực hiện trên 397 trẻ từ 3-5 tuổi và 397 cha/mẹ trẻ tại 4 trường mầm non tại Thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang trong thời gian từ tháng 01/2018 đến tháng 08/2018 với mục tiêu: Mô tả tình trạng thừa cân-béo phì (TC-BP) và xác định các yếu tố liên quan đến tình trạng TC-BP ở trẻ mầm non từ 3-5 tuổi tại thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang năm 2018. Phương pháp: Nghiên cứu với thiết kế cắt ngang, sử dụng bộ câu hỏi điều tra, cân đo nhân trắc, phần mềm WHO Anthro và WHO AnthroPlus, SPSS 22.0 để nhập và phân tích số liệu. Kết quả: Tỉ lệ trẻ TC-BP ở trẻ từ 3-5 tuổi trên địa bàn nghiên cứu là 30 %. Tỉ lệ TC-BP của nam là 38,7% gấp 1,67 lần tỉ lệ TC-BP của nữ 23,2%. Tỉ lệ TC-BP tăng theo tuổi.Trẻ trai có tỉ lệ TC-BP cao hơn trẻ gái. Có mối liên quan giữa sở thích ăn đồ béo; ăn thức ăn nhanh với tình trạng TC- BP ở trẻ. Kết luận: Tỉ lệ TC-BP ở trẻ mầm non tại thành phố Mỹ Tho rất cao và tăng dần theo tuổi của trẻ, cần chú ý truyền thông thay đổi thói quen ăn uống không ăn đồ ăn béo và đồ ăn nhanh để phòng TC- BP ở trẻ.
Mục tiêu: Điều tra cắt ngang trên 904 học sinh, nhằm mô tả tình trạng dinh dưỡng, phân tích mối liên quan giữa thói quen ăn uống và tình trạng suy dinh dưỡng (SDD) gầy còm của học sinh tại 04 trường trung học cơ sở (THCS) thành phố Pleiku năm 2018. Phương pháp: Học sinh được đo chiều cao, cân nặng và phỏng vấn theo bộ câu hỏi soạn sẵn. Đánh giá tình trạng dinh dưỡng, SDD thể gầy còm được đánh giá dựa vào Z-core chỉ số khối theo tuổi BMI/T< -2SD (gầy còm) theo phân loại của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) dựa vào quần thể tham khảo WHO 2007. Kết quả: có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tình trạng SDD thể gầy còm của học sinh với số bữa ăn chính, thói quen ăn sáng, ăn bữa phụ trong ngày (p< 0,05), OR lần lượt là (3,0; 2,9; 1,7). Các đặc điểm gồm tần suất tiêu thụ các thực phẩm tôm, tép, cua; sữa có liên quan với SDD thể gầy còm của học sinh. Kết luận: Thói quen, chế độ ăn không hợp lý có liên quan đến tình trạng SDD gầy còm ở học sinh THCS thành phố Pleiku.
Đặt vấn đề: Viêm thận lupus là bệnh tự miễn, xảy ra khi thận bị viêm. Đây là một trong những biến chứng thường gặp nhất ở những người bị bệnh Lupus ban đỏ hệ thống, thường được gọi là Lupus. Nghiên cứu nhằm mô tả thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị của bệnh nhân viêm thận Lupus. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp định lượng và định lượng được thực hiện trên 102 đối tượng người chăm sóc chính (NCSC) và bệnh nhi được quản lý điều trị tại phòng khám Bệnh viện Nhi Trung ương năm 2018. Kết quả: nghiên cứu chỉ ra tỷ lệ tuân thủ điều trị bệnh viêm thận Lupus chưa cao (66,7%). Các yếu tố như dịch vụ y tế, đặc điểm của NCSC và tiếp cận dịch vụ còn gặp khó khăn do sự hiểu biết về bệnh khác nhau, khoảng cách tiếp cận dịch vụ xa, đặc điểm điều trị bệnh nhi có ảnh hưởng đến sự tuân thủ điều trị bệnh viện thận Lupus. Kết luận: nhằm giúp nâng cao tỷ lệ tuân thủ điều trị viêm thận Lupus cần tăng cường công tác tư vấn, truyền thông về bệnh viêm thận Lupus cho người bệnh và gia đình người bệnh, tăng cường công tác quản lý bệnh nhân viêm thận Lupus.
Mục tiêu: Nghiên cứu nhằm mô tả thực trạng và xác định một số yếu tố liên quan đến việc sử dụng các biện pháp tránh thai (BPTT) của phụ nữ Raglai có chồng tại xã Khánh Hiệp năm 2018. Phương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống với 240 phụ nữ Raglai có chồng tham gia nghiên cứu. Kết quả: Tỷ lệ sử dụng BPTT chiếm 69,6%, trong đó 66,3% áp dụng BPTT hiện đại, 3,3% áp dụng biện pháp truyền thống, 39,6% sử dụng thuốc uống tránh thai. Nguồn cung cấp BPTT chủ yếu là cán bộ y tế thôn/cộng tác viên dân số (58,7%). Một số yếu tố có liên quan đến việc sử dụng BPTT của phụ nữ Raglai là tuổi, số con và khoảng cách từ nhà đến trạm y tế xã. Kết luận: Tỷ lệ sử dụng BPTT của phụ nữ dân tộc Raglai có chồng tại xã Khánh Hiệp còn thấp, đặc biệt các BPTT có hiệu quả cao, lâu dài và được cung cấp tại cơ sở y tế như thuốc tiêm, thuốc cấy. Phụ nữ chủ yếu nhận được thông tin và BPTT qua y tế thôn bản, cộng tác viên dân số. Khuyến nghị: Cần tăng cường truyền thông và khuyến khích phụ nữ sử dụng BPTT hiệu quả cao và lâu dài như thuốc tiêm, thuốc cấy, đặc biệt với phụ nữ đã có hai con trở lên và ở xa cơ sở y tế.