Lê Văn Lộc 1 , Hoàng Khánh Chi 2* 1 Sở Y tế Yên Bái 2 Trường Đại học Y tế công cộng TÓM TẮT Mục tiêu: Mô tả việc tuân thủ một số quy định pháp luật về hành nghề y tế tư nhân (HNYTTN) của các cơ sở HNYTTN trên địa bàn thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang. Nghiên cứu thực hiện tại thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái từ tháng 3 đến tháng 9 năm 2017. Đối tượng nghiên cứu (ĐTNC): Cơ sở HNYTTN, người chịu trách nhiệm chuyên môn HNYTTN của cơ sở HNYTTN trên địa bàn thành phố Yên Bái thuộc diện quản lý theo phân cấp tại thời điểm nghiên cứu. Kết quả: Tỷ lệ các cơ sở HNYTTN đạt các tiêu chuẩn quy định về HNYTTN khá cao (trên 90%). Tuy nhiên một số tiêu chuẩn còn chưa đạt như xử lý chất thải y tế (24,7%), phương tiện vận chuyển cấp cứu trong và ngoài cơ sở (55,8%), không đủ cơ số thuốc trong hộp thuốc chống sốc (28,6%) và tủ thuốc cấp cứu (55,8%). Kết luận: Các cơ quan quản lý nhà nước trung ương và địa phương cần ban hành kịp thời các văn bản hướng dẫn thực hiện các quy định về HNYTTN tới các cơ sở; đồng thời phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương hơn nữa trong công tác kiểm tra phát hiện vi phạm đối với các cơ sở HNYTTN trên địa bàn quản lý. Từ khóa: Cơ sở hành nghề y tế tư nhân, thanh tra y tế, y tế địa phương. * Địa chỉ liên hệ: Hoàng Khánh Chi Email: hkc@huph.edu.vn Trường Đại học Y tế công cộng
Đỗ Thị Hạnh Trang 1* , Tạ Anh Tuấn 2 , Trương Thị Kim Duyên 2 1 Trường Đại học Y tế công cộng 2 Bệnh viện Nhi Trung ương TÓM TẮT Mục tiêu: Mô tả thực hành chăm sóc dự phòng viêm phổi liên quan đến thở máy (VPLQTM) và xác định mối liên quan giữa một số yếu tố nhân khẩu học, đặc điểm môi trường làm việc và mức độ đào tạo về chuyên môn với thực hành chăm sóc dự phòng VPLQTM của điều dưỡng viên (ĐDV) làm việc tại các khoa cấp cứu của bệnh viện Nhi Trung ương. Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng thiết kế cắt ngang. Số liệu được thu thập bằng phiếu phát vấn tự điền và bảng kiểm quan sát thực hành trên toàn bộ 161 ĐDV làm việc tại các khoa hồi sức của bệnh viện Nhi Trung ương. Kết quả: 62,1% điều dưỡng thực hành dự phòng VPLQTM đạt. Các yếu tố liên quan với thực hành dự phòng VPLQTM gồm trình độ chuyên môn, thâm niên công tác, nhóm khoa hồi sức đang làm việc, số bệnh nhân chăm sóc trung bình trong một ca làm việc, phối hợp với bác sĩ trong dự phòng VPLQTM và số lần được đào tạo về chăm sóc dự phòng VPLQTM. Kết luận và khuyến nghị: Bệnh viện cần tăng cường hơn nữa các biện pháp giúp cải thiện thực hành dự phòng VPLQTM của điều dưỡng, trong đó cần đặc biệt chú ý công tác đào tạo liên tục, nâng cao kiến thức chuyên môn, sử dụng nhân lực hiện quả nhằm giảm tải áp lực công việc và tăng cường sự phối hợp giữa điều dưỡng và bác sĩ trong chăm sóc đảm bảo an toàn và hiệu quả điều trị cho bệnh nhân. Từ khoá : thực hành, viêm phổi liên quan đến thở máy, điều dưỡng * Địa chỉ liên hệ: Đỗ Thị Hạnh Trang Email: dtht@huph.edu.vn Trường Đại học Y tế công cộng
Bùi Đồng Tiến 1* , Hà Văn Như 2 1 Bệnh viện Bình Dân 2 Trường Đại học Y tế công cộng TÓM TẮT : Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả kiến thức và hành vi tìm kiếm dịch vụ khám chữa bệnh (KCB) vô sinh và một số yếu tố ảnh hưởng của người bệnh (NB) đến khám ngoại trú tại khoa Nam học bệnh viện Bình Dân (BVBD) năm 2017. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, được thực hiện từ tháng 2 đến tháng 6/2017 tại BVBD – Tp. Hồ Chí Minh. Đối tượng nghiên cứu là người bệnh ngoại trú và cán bộ y tế liên quan (trưởng khoa Nam học, bác sĩ điều trị tại khoa Nam học). Kết quả: Có 18,2% NB có kiến thức chung về vô sinh nam (VSN) đạt yêu cầu. Tỷ lệ NB biết tác hại của việc sử dụng thuốc điều trị không rõ nguồn gốc là 71,4%; tiếp xúc với thuốc trừ sâu là 42,9%; lạm dụng rượu bia và chất kích thích là 24,7%; có tiền sử mắc bệnh lây qua đường tình dục là 24%; hút thuốc lá là 23,4%. Cơ sở KCB được chọn nhiều nhất là cơ sở thuốc gia truyền (60,4%); phòng khám tư nhân (37,1%); cơ sở đông y (34,4%). Lý do chọn cơ sở KCB là gần nhà (37,1%); quen biết trước (34,4%) và đảm bảo bí mật (28,5%). Thiếu thông tin về cơ sở y tế điều trị VSN, khoảng cách địa lý, tâm lý lo ngại phải chờ đợi lâu, kinh phí điều trị là những yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tìm kiếm dịch vụ KCB vô sinh nam. Kết luận: Nghiên cứu cho thấy kiến thức của NB về bệnh VSN còn kém, đặc biệt là các tác hại do uống rượu bia và hút thuốc lá. NB thiên về lựa chọn cơ sở thuốc gia truyền hoặc phòng khám tư nhân để điều trị. Vì vậy, việc tăng cường phổ biến kiến thức về VSN và thông tin về cơ sở y tế khám và điều trị VSN nhằm nâng cao hiểu biết của cộng đồng là cần thiết. Từ khoá : vô sinh nam, kiến thức, hành vi, bệnh viện Bình Dân. *Địa chỉ liên hệ: Bùi Đồng Tiến Email: dongtien1962@yahoo.vn Bệnh viện Bình Dân, TPHCM
Mục tiêu: Tài chính là một trong những yếu tố quan trọng có tính chất quyết định tới vận hành hoạt động của các bệnh viện. Tăng cường công tác quản lý tài chính, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính là cơ sở để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của bệnh viện, là nhân tố thúc đẩy sự cạnh tranh và tiến bộ trong hoạt động của các bệnh viện. Phương pháp: Thiết kế nghiên cứu cắt ngang, kết hợp định tính và định lượng. Nghiên cứu thực hiện tại Bệnh viện Nhi Trung ương (BVNTW) từ năm 2014 đến năm 2016. Đối tượng nghiên cứu: Tình hình quản lý thu chi của BVNTW. Kết quả: Nghiên cứu tình hình thực hiện công tác quản lý tài chính tại BVNTW cho thấy số thu năm sau cao hơn năm trước; thu nhập của cán bộ viên chức không ngừng tăng lên; trang thiết bị được đầu tư bổ sung, thay thế trong khi nguồn kinh phí được cấp từ ngân sách nhà nước ngày càng giảm. Việc thực hiện chính sách tự chủ tạo ra những tác động nhất định trong cung ứng, sử dụng và chi trả dịch vụ y tế. Quản lý tài chính của Bệnh viện đã đóng góp không nhỏ trong việc xây dựng và phát triển của Bệnh viện, nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh, giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Kết luận : Quản lý tài chính theo cơ chế tự chủ tạo điều kiện cho BVNTW chủ động trong thu, chi tài chính, phát huy được ưu thế, vai trò của bệnh viện chuyên khoa Nhi đầu ngành cả nước, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng cao của người dân, hoàn thành tốt chức năng nhiệm vụ được giao. Từ khóa : Quản lý tài chính, cơ chế tự chủ, tự chủ tài chính.
TÓM TẮT Mục tiêu : mô tả sự sẵn sàng và phân tích một số rào cản khi triển khai thực hiện Thông tư 15/2015/TT-BYT của Bộ Y tế về bảo hiểm y tế (BHYT) cho người nhiễm HIV tại tỉnh Đắk Lắk năm 2017. Thiết kế nghiên cứu cắt ngang kết hợp định lượng với định tính được tiến hành qua phỏng vấn 142 bệnh nhân đang điều trị ARV tại 03 Phòng khám ngoại trú (PKNT), 07 cuộc phỏng vấn sâu và 04 cuôc thảo luận nhóm tại tỉnh Đắk Lắk năm 2017. Kết quả: nhóm đối tượng quản lý, tổ chức thực hiện, cung cấp dịch vụ đã có những bước chuẩn bị sẵn sàng cho việc triển khai thực hiện Thông tư 15/2015/TT-BYT của Bộ Y tế qua nhiều biện pháp về tăng tỉ lệ tham gia BHYT, đảm bảo quyền lợi cho người bệnh. Ở nhóm này khó khăn lớn nhất là kiện toàn Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS sao cho có đủ điều kiện về cơ sở vật chất, nhân lực hành nghề để được ký hợp đồng khám chữa bệnh BHYT với bảo hiểm xã hội. Với nhóm đối tượng hưởng lợi – người bệnh HIV/AIDS còn cần nhiều tác động để nâng tỉ lệ có BHYT từ 42,3% lên trên 70% như định hướng phấn đấu. Nhóm này cũng gặp nhiều rào cản khiến người bệnh không mua, sử dụng BHYT như không có kinh phí mua và thanh toán BHYT, kiến thức về BHYT còn hạn chế với 55% đối tượng nghiên cứu có kiến thức không đạt và rào cản lớn nhất vẫn là vấn đề kỳ thị, phân biệt đối xử với HIV/AIDS. Kết luận: để sẵn sàng triển khai Thông tư 15/2015/TT-BYT hiệu quả, cần tiến hành các biện pháp tuyên truyền về BHYT, vấn đề giảm kỳ thị và tăng cường các chính sách hỗ trợ người bệnh mua thẻ BHYT. Từ khoá : Bảo hiểm y tế, bệnh nhân HIV/AIDS.
TÓM TẮT Mục tiêu: Nghiên cứu này nhằm mô tả động lực làm việc của nhân viên y tế (NVYT) và phân tích một số giải pháp để cải thiện tại Trung tâm Y tế (TTYT) huyện Phù Mỹ-Bình Định năm 2017. Phương pháp: Thiết kế mô tả cắt ngang, kết hợp phương pháp định lượng và định tính. Số liệu định lượng được thu thập trước, qua phát vấn toàn bộ 295 NVYT. Động lực làm việc được đo lường bằng thang đo gồm 7 nhóm nội dung với 23 tiểu mục. Số liệu định tính thu thập qua 10 cuộc phỏng vấn sâu và 5 cuộc thảo luận nhóm với đại diện lãnh đạo, đại diện các khoa, phòng, đội, trạm y tế (TYT) thuộc TTYT. Kết quả: Chỉ có 57,5% NVYT có động lực làm việc tính theo điểm tổng của cả thang đo. Tỷ lệ này ở tuyến huyện thấp hơn xã (54,9% và 60,2%); bộ phận lâm sàng và cận lâm sàng thấp hơn bộ phận dự phòng và hành chính (47,7% so với 61,4%); nhóm quản lý có động lực (60,8%) cao hơn nhóm làm chuyên môn (54,2%). Một số giải pháp có thể cải thiện động lực làm việc như: Bố trí, phân công công việc phù hợp về khối lượng, năng lực, sở trường của NVYT; Ghi nhận và khuyến khích những đóng góp của NVYT; Trước mắt ưu tiên tăng tiền thưởng cho NVYT tuyến huyện, đặc biệt là bộ phận lâm sàng và cận lâm sàng; Cải thiện môi trường làm việc và cơ sở vật chất; Tạo cơ hội thăng tiến và thực hiện tốt chính sách thu hút nhân lực cho tuyến huyện. Kết luận: Động lực của NVYT cả tuyến huyện và TYT còn khá thấp vì vậy cần ưu tiên thực hiện các giải pháp cải thiện động lực làm việc của NVYT đặc biệt là tuyến huyện.
TÓM TẮT Mục tiêu: Bài báo này nhằm mô tả tính sẵn có của các trang thiết bị y tế (TTBYT) thiết yêu và tình trạng thực hiện dịch vụ y tế tại y tế tuyến cơ sở ở Việt Nam. Phương pháp nghiên cứu: Bài báo sử dụng phương pháp thống kê mô tả từ số liệu thứ cấp của “Điều tra cơ sở Y tế tuyến huyện và xã tại Việt Nam” do Ngân hàng thế giới thực hiện tại 246 Trạm y tế (TYT) xã và 78 bệnh viện huyện năm 2015. Kết quả: có 5,1% bệnh viện huyện và 17,1% TYT có đủ tất cả các trang thiết bị thiết yếu được khảo sát. Tỷ lệ thiết bị không hoạt động ở TYT là 6,5% và ở bệnh viện huyện là 5,2%. Tỷ lệ bệnh viện huyện không đáp ứng được đầy đủ các nhóm dịch vụ chăm sóc sức khỏe cao nhất là sinh sản (25,6%) và trẻ em (23,1%). Tỷ lệ TYT không đáp ứng được đầy đủ các nhóm dịch vụ chăm sóc sức khỏe cao nhất là điều trị Đái tháo đường (14%). Bàn luận: Cần ưu tiên đầu tư TTBYT đồng thời với đầu tư cho quản lý TTBYT tại các cấp y tế xã và huyện. Ngoài ra, cần tiến hành các nghiên cứu sâu hơn để hoàn thiện hướng dẫn về danh mục TTBYT phù hợp cho cơ sở y tế xã và huyện.
TÓM TẮT Mục tiêu: Nghiên cứu được thực hiện trên 1695 học sinh lớp 3-5 của 2 trường tiểu học thuộc khu vực nội thành Hà Nội trong thời gian từ tháng 10/2017 đến tháng 12 năm 2017 với mục tiêu phân tích đặc điểm dinh dưỡng của học sinh tiểu học năm 2017. Phương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu cắt ngang mô tả. Kết quả : cân nặng trung bình của học sinh là 33,8 ± 8,5kg và chiều cao trung bình là 134,7 ± 7,7cm, có sự khác biệt về cân nặng trung bình của học sinh nam và học sinh nữ 2 trường. Tỷ lệ thừa cân- béo phì của học sinh ở mức cao (47,9%) trong đó trường Lý Thái Tổ có tỷ lệ học sinh thừa cân- béo phì là 49% (26,6% thừa cân; 22,4% béo phì) và trường Mai Dịch là 47,3% (28% thừa cân; 19,3% béo phì). Kết luận: Cân nặng trung bình của học sinh 2 trường đều cao hơn so với mục tiêu tăng trưởng của Việt Nam tuy nhiên chiều cao trung bình lại thấp hơn so với chuẩn tăng trưởng của người Việt Nam. Tỷ lệ thừa cân béo phì cao và tăng dần theo tuổi. Học sinh nam có tỷ lệ có tỷ lệ thừa cân- béo phì cao hơn học sinh nữ.
TÓM TẮT Mục tiêu: Phân tích mối liên quan giữa thói quen ăn uống và tần suất tiêu thụ thực phẩm với tình trạng thừa cân béo phì ở học sinh một số trường tiểu học tại thành phố Sóc Trăng. Phương pháp: nghiên cứu cắt ngang mô tả, sử dụng phương pháp đo nhân trắc để xác định tỷ lệ TC-BP trên 1305 trẻ và nghiên cứu bệnh chứng để xác đinh mối liên quan giữa khẩu phần và thói quen ăn uống với tình trạng thừa cân- béo phì. Kết quả nghiên cứu: tỷ lệ TC-BP là 18,8%, trong đó tỷ lệ thừa cân là 11,6% và tỷ lệ béo phì là 7,2%. Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa mức độ háu ăn, mức độ ăn vặt thường xuyên, ăn từ 4 bữa trở lên trong 1 ngày, thích ăn thức ăn béo, thích ăn thức ăn ngọt và thích ăn thức ăn nhanh với TC-BP (OR lần lượt là 3,9; 2,8; 1,5; 1,4; 2,8 và 1,7; với p<0,05). Khuyến nghị: Cần có biện pháp truyền thông giáo dục dinh dưỡng hợp lý cho học sinh, phụ huynh và cả giáo viên nhà trường để phòng ngừa thừa cân- béo phì ở trẻ.
TÓM TẮT Mục tiêu: Mô tả thực hành nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn (NCBSMHT) từ 4-6 tháng đầu và xác định mối liên quan giữa NCBSMHT và sự phát triển của trẻ ở 9 tháng tuổi. Phương pháp: Thiết kế nghiên cứu cắt ngang được sử dụng trên mẫu 210 trẻ 9 tháng tuổi và bà mẹ ở 25 xã thuộc hai huyện Cẩm Giàng và Kim Thành, tỉnh Hải Dương. Công cụ Bảng câu hỏi Độ tuổi và Giai đoạn phát triển (Ages and Stages Questionnaires 3: ASQ-3) do bà mẹ tự điền được sử dụng để đánh giá sự phát triển của trẻ ở 9 tháng tuổi. Thực hành NCBSMHT trong giai đoạn từ 4-6 tháng được hỏi hồi cứu bà mẹ tính từ thời điểm sinh. Kết quả: Tỷ lệ NCBSMHT từ 4-6 tháng đầu là 11,9%. Điểm phát triển chung của trẻ là 206 ± 42. Điểm khác biệt giữa hai nhóm NCBSMHT và không NCBSMHT đối với điểm phát triển chung là 10,3 (p=0,31), đối với lĩnh vực giải quyết vấn đề là 6,5 (p<0,05). Kết luận: NCBSMHT có thể liên quan đến sự phát triển của trẻ trong lĩnh vực giải quyết vấn đề. Nhân viên y tế có thể sử dụng kết quả nghiên cứu làm bằng chứng trong khuyến khích NCBSMHT.
Mục tiêu: Mô tả kiến thức, thực hành phòng chống suy dinh dưỡng của bà mẹ người dân tộc M’Nông tại xã Yang Mao, huyện Krông Bông, Đắk Lắk. Phương pháp: Áp dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang với 181 bà mẹ có con từ 0-24 tháng tuổi. Kết quả: Kiến thức chung đạt 40,9%. Trong đó: kiến thức nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM) 74,0%, cho ăn bổ sung (ĂBS) 81,8%, chăm sóc trẻ 21,5%. Thực hành chung đạt 27,6%. Trong đó: Thực hành về NCBSM 91,7%, cho ĂBS 72,4%, chăm sóc trẻ 67,4%. Các yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê được chỉ ra là: những bà mẹ có trình độ học vấn dưới trung học cơ sở có kiến thức chưa đạt về chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ cao gấp 2,5 lần so với những bà mẹ có trình độ từ trung học cơ sở trở lên; bà mẹ 2 con có kiến thức chưa đạt về chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ cao gấp 1,8 lần so với những bà mẹ có 1 con và những bà mẹ thuộc hộ nghèo có kiến thức chưa đạt về chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ cao gấp 2,0 lần so với những bà mẹ thuộc hộ không nghèo. Kết luận: Kiến thức và thực hành của các bà mẹ người dân tộc M’Nông có con dưới 24 tháng tuổi tại xã Yang Mao về phòng chống suy dinh dưỡng còn thấp với các yếu tố liên quan đó là trình độ học vấn, số con trong gia đình.
Mục tiêu: Nghiên cứu này được thực hiện để mô tả lý do bắt đầu sử dụng và quan điểm về sử dụng thuốc lá điện tử trong nhóm thanh niên tuổi từ 18 – 30 có sử dụng thuốc lá điện tử tại Hà Nội năm 2017 Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu thiết kế định tính, cách tiếp cận nghiên cứu hiện tượng, chọn mẫu theo phương pháp hòn tuyết lăn. Tổng số 11 người có sử dụng thuốc lá điện tử tuổi từ 18 – 30, tại Hà Nội đã tham gia nghiên cứu. Trong đó, 8 người đang sử dụng và 3 người đã từng hút thuốc lá điện tử. Kết quả: Lý do sử dụng thuốc lá điện tử được đề cập nhiều nhất trong nghiên cứu là để cai nghiện, bỏ thuốc lá thông thường. Một số lý do khác được đề cập đến như do tò mò, muốn trải nghiệm những thứ mới lạ như mùi thơm, khả năng tạo khói và thể hiện bản thân. Người sử dụng thuốc lá điện tử cảm thấy tình trạng sức khỏe của mình có cải thiện hơn so với thuốc lá thông thường. Tất cả đều cho rằng không nghiện, không bị lệ thuộc bất kỳ chất nào là tốt nhất, tuy nhiên nhìn chung hút thuốc lá điện tử dễ được những người xung quanh chấp nhận hơn so với thuốc lá thông thường hoặc các chất gây nghiện khác. Kết luận: Còn thiếu nhiều thông tin đa chiều và khách quan liên quan đến thuốc lá điện tử, đặc biệt các thông tin liên quan tác dụng cai thuốc lá thông thường và ảnh hưởng đến sức khỏe của thuốc lá điện tử. Cần có nhiều nghiên cứu hơn nữa về những chủ đề này.
Mục tiêu: Nghiên cứu được tiến hành với hai mục tiêu: Mô tả tỷ lệ kiến thức, thái độ và thực hành về phòng chống đuối nước trẻ em của người chăm sóc trẻ và đánh giá hiệu quả can thiệp truyền thông trong phòng ngừa đuối nước trẻ em tại 2 trường tiểu học huyện Cao Lãnh, Đồng Tháp 2016. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp so sánh trước-sau không nhóm chứng trên 405 đối tượng tham gia nghiên cứu tại 2 trường tiểu học huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp. Cha mẹ và người chăm sóc trẻ được truyền thông thông qua các hình thức khác nhau tại cộng đồng và tại trường học. Kết quả nghiên cứu: Kiến thức về phòng ngừa đuối nước của người chăm sóc trẻ trước can thiệp là 20,7% và tỷ lệ này tăng 79% sau can thiệp, quá trình truyền thông can thiệp có chỉ số hiệu quả can thiệp là 28,1%. Thái độ đa số cha mẹ/người chăm sóc trẻ có thái độ tốt về phòng ngừa đuối nước, với chỉ số hiệu quả can thiệp là 25,9% và thực hành của người chăm sóc trẻ về phòng ngừa đuối nước, với chỉ số hiệu quả can thiệp là 69%. Sự khác biệt giữa kiến thức, thái độ, thực hành với tỷ lệ trước - sau can thiệp có ý nghĩa thống kê với p<0,05. Kết luận: Các phương pháp truyền thông có hiệu quả trong việc nâng cao kiến thức, thái độ và thực hành của cha mẹ về phòng chống đuối nước cho trẻ em. Chỉ số hiệu quả can thiệp đều tăng lên rõ rệt về kiến thức, thái độ và thực hành so với trước can thiệp.
Mục tiêu : Mô tả thực trạng bị bắt nạt và phân tích một số yếu tố liên quan tới vai trò chỉ bị bắt nạt của học sinh trường trung học cơ sở Tiền Châu, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Phương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu cắt ngang phân tích, nghiên cứu đã thu thập thông tin của 429 học sinh (lớp 6 - 9) vào tháng 04/2017 qua phát phiếu tự điền. Kết quả : Tỷ lệ học sinh bị bắt nạt nói chung là 59,4%. Trong đó, tỷ lệ chỉ bị bắt nạt là 30,8%. Phân tích hồi quy đa biến logistic cho kết quả những yếu tố liên quan đến vai trò chỉ bị bắt nạt bao gồm yếu tố thuộc cá nhân như lớp: càng lên lớp cao hơn, nguy cơ bị bắt nạt càng giảm OR: 0,7 (0,53 – 0,93), rối nhiễu tâm lý ở mức độ trung bình OR: 3,07 (1,48 – 6,35), có ý định/sắp đặt/thực hiện tự tử OR: 9,13 (4,68 – 17,82), áp lực học tập OR: 2,17 (1,2 – 3,29) càng cao càng làm tăng nguy cơ bị bắt nạt; hỗ trợ gia đình thấp làm gia tăng nguy cơ bị bắt nạt OR: 2,55 (1,23 – 3,29). Kết luận: Nhà trường và gia đình cần quan tâm hơn nữa tới vấn đề áp lực học tập và vấn đề sức khỏe tâm thần của học sinh vì bắt nạt có mối liên quan chặt chẽ với các yếu tố này. Các nhà nghiên cứu cần tiếp tục cân nhắc tìm hiểu mối liên quan giữa áp lực học tập và bắt nạt trong các nghiên cứu tiếp theo. Ngoài ra, gia đình cần giúp đỡ, hỗ trợ tinh thần, tâm sự và chia sẻ cũng như giúp đỡ con em mình nhiều hơn nữa trong việc ra quyết định nhằm ngăn chặn bắt nạt.