📚 Mục lục — Tập 3 Số 04 (2019): Tập 03, Số 04-2019
Xem Tất cả Các số ›
TẠP CHÍ JHDS 2019
Tạp chí Khoa học Nghiên cứu Sức khỏe và Phát triển
📅 Tập 3 Số 04 (2019): Tập 03, Số 04-2019
ISSN: 2588-1442 (điện tử) · 2588-1442 (in)
Nghiên cứu gốc (Original papers)
Thực trạng tai nạn thương tích do chó cắn ở trẻ dưới 16 tuổi sống tại thành phố Cao Bằng giai đoạn 2016-2018

Mục tiêu : Mô tả một số đặc điểm tai nạn thương tích do chó cắn ở trẻ em dưới 16 tuổi đến tiêm phòng dại tại Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Cao Bằng 2016-2018. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện từ tháng 11/2018 đến tháng 9/2019 dựa trên số liệu thứ cấp của 1.214 trẻ dưới 16 tuổi đến tiêm phòng tại Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Cao Bằng giai đoạn từ tháng 1 năm 2016 đến tháng 12 năm 2018. Kết quả : Nhóm tuổi nguy cơ cao là 1-5 tuổi và 6 – 10 tuổi (40,9% và 39,3%), tỷ lệ bị tổn thương mức độ II chiếm 78,9%, độ III chiếm 21,1%; tỷ lệ bị cắn ở chân là cao nhất (42,3%), tiếp đến vị trí vết thương ở tay (28,0%), vùng đầu, mặt, cổ (22,4%), vùng thân (12,4%), và vùng khác (1,5%); có 12,1% trẻ không được xử trí vết thương tại chỗ, 4% số trẻ đến các cơ sở y tế để tiến hành tiêm dự phòng sau ngày thứ 10 trở đi, 77,9% trẻ được tiêm vắc xin. Kết luận : nghiên cứu cho thấy sự cần thiết phải triển khai các chương trình truyền thông về phòng chống bệnh dại ở nhà trường và cộng đồng về nhóm tuổi có nguy cơ cao là từ 1 – 10 tuổi; nâng cao kiến thức cho người dân về cách xử lý vết thương ngay và tầm quan trọng của tiêm phòng vắc xin trong vòng 10 ngày sau khi bị cắn.

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Một số yếu tố liên quan đến trầm cảm ở người cao tuổi huyện Chương Mỹ, Hà Nội, năm 2019

Mục tiêu: Nghiên cứu này nhằm mục đích 1) mô tả thực trạng trầm cảm và 2) xác định các yếu tố liên quan đến trầm cảm ở người cao tuổi huyện Chương Mỹ, Hà Nội năm 2019. Phương pháp: Nghiên cứu sử dụng thiết kế cắt ngang trên 376 người cao tuổi (từ 60 trở lên) được chọn ngẫu nhiên tại huyện Chương Mỹ, Hà Nội, năm 2019. Kết quả: Tỷ lệ người cao tuổi được đánh giá trầm cảm là 26,1% (18,6% trầm cảm nhẹ, 6,1% trầm cảm vừa và 2,4% trầm cảm nặng). Nghiên cứu chỉ ra các yếu tố liên quan đến trầm cảm người cao tuổi như giới tính, trình độ học vấn, kinh tế gia đình, hoàn cảnh sống, công việc hiện tại, nhu cầu được hỗ trợ tâm lý và có tham gia các hoạt động xã hội (p<0,05). Kết luận: Việc nhận biết trầm cảm ở người cao tuổi là quan trọng để thiết kế các chương trình y tế công cộng giúp sàng lọc bệnh trầm cảm sớm, tăng cường các hỗ trợ xã hội để cải thiện đời sống tinh thần của người cao tuổi.

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Đánh giá mức nhiễm vi sinh vật của nước đá dùng liền tại ba quận Cầu Giấy, Nam Từ Liêm và Bắc Từ Liêm, Thành phố Hà Nội năm 2018

Mục tiêu : Đánh giá mức nhiễm vi sinh vật của nước đá dùng liền tại ba quận: Cầu Giấy, Nam Từ Liêm và Bắc Từ Liêm theo quy định QCVN 10:2011/BYT (Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với nước đá dùng liền) thông qua xác định năm chỉ số vi sinh vật. Phương pháp nghiên cứu : Xét nghiệm phát hiện định lượng 5 chỉ số vi sinh vật trong mẫu nước đá dùng liền được thu thập từ 28 cơ sở sản xuất tại ba quận: Cầu Giấy (8 cơ sở), Nam Từ Liêm (10 cơ sở) và Bắc Từ Liêm (10 cơ sở) theo QCVN 10:2011/BYT bằng phương pháp màng lọc. Kết quả : Đã xác định có 27/28 mẫu nước đá dùng liền thu nhận từ cơ sở sản xuất tại quận Cầu Giầy, Nam Từ Liêm và Bắc Từ Liêm có phát hiện nhiễm các chỉ số vi sinh vật lần lượt là P. aeruginosa 23/28 mẫu, Coliform tổng số 22/28 mẫu, S. feacal 12/28 mẫu, E. coli 5/28 mẫu và Bào tử vi khuẩn kỵ khí khử sulfit 0/28 mẫu. Hơn thế nữa, tỉ lệ mẫu nước đá dùng liền nhiễm E. coli , P. aeruginosa và S. feacal thu thập từ cơ sở sản xuất tại quận Bắc Từ Liêm cao hơn nhiều so với mẫu nước đá dùng liền thu thập từ cơ sở sản xuất tại hai quận còn lại. Kết luận : Tỉ lệ mẫu nước đá dùng liền thu thập từ cơ sở sản xuất tại ba quận Cầu Giấy, Nam Từ Liêm và Bắc Từ Liêm có phát hiện nhiễm các chỉ số vi sinh vật theo quy định QCVN 10:2011/BYT ở mức cao. Do vậy, rất cần các biện pháp can thiệp phù hợp để giảm chỉ số nhiễm vi sinh vật đối với nước đá dùng liền giúp nâng cao chất lượng sức khỏe cuộc sống dân cư trên địa bàn ba quận này của Thành phố Hà Nội.

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Nhận thức của cha mẹ/người chăm sóc chính về phòng chống đuối nước trẻ em dưới 15 tuổi tại 8 tỉnh ở Việt Nam năm 2018

Mục tiêu: Mô tả nhận thức của cha mẹ/người chăm sóc trẻ về phòng chống đuối nước cho trẻ em dưới 15 tuổi tại 8 tỉnh, Việt Nam năm 2018. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang trên 849 đối tượng là cha mẹ hoặc người chăm sóc chính đại diện cho các hộ gia đình có trẻ dưới 15 tuổi đang sinh sống trong cùng địa bàn với các trường hợp đuối nước được thống kê trong giai đoạn 2015-2017. Thông tin được thu thập qua phỏng vấn định lượng dựa trên bộ câu hỏi cấu trúc. Kết quả: Nhận thức của cha mẹ/người chăm sóc trẻ về nguy cơ và dự phòng đuối nước khá tốt, 98,4% phụ huynh cho rằng ao hồ, sông suối là những địa điểm dễ xảy ra đuối nước nhất, trẻ nam có nguy cơ đuối nước cao hơn nữ; 92,1% cho rằng học bơi là biện pháp phòng chống đuối nước hiệu quả và trẻ nên bắt đầu học bơi ở nhóm tuổi 6-11(61,8%). Kết luận: Phụ huynh đã nhận thức được về các yếu tố nguy cơ, nguyên nhân, khả năng xảy ra cũng như các biện pháp phòng chống đuối nước cho trẻ.

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến quần thể bọ gậy và muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue tại xã Diên Lộc, Diên Khánh, Khánh Hòa năm 2019

Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả thực trạng và xác định một số yếu tố liên quan đến quần thể bọ gậy và muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue (SXHD) tại xã Diên Lộc, Diên Khánh, năm 2019. Phương pháp nghiên cứu : Nghiên cứu cắt ngang có phân tích được tiến hành từ tháng 03 đến tháng 08 năm 2019. Có 215 hộ gia đình (HGĐ) của 3 thôn xã Diên Lộc được chọn vào nghiên cứu theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống. Các chỉ số véc tơ (bọ gậy, muỗi) được thu thập và đánh giá dựa theo hướng dẫn của Bộ Y tế (quyết định 3711/QĐ-BYT ngày 19/9/2014). Các thông tin về phỏng vấn, quan sát thực hành phòng bệnh SXHD tại HGĐ được thu thập theo bộ câu hỏi và bảng kiểm quan sát được thiết kế và đã được điều tra thử trước khi tiến hành thu thập số liệu. Kết quả: Chỉ số véc tơ truyền bệnh SXHD điều tra được tại 215 HGĐ: chỉ số nhà có bọ gậy (HIL%)= 36,7; chỉ số Breteau (BI)=45,1; chỉ số mật độ muỗi (DI) =0,62 con/nhà, tỷ lệ nhà có muỗi (HI%) = 26. Các yếu tố liên quan đến quần thể véc tơ truyền bệnh SXHD: những HGĐ không súc rửa, thay nước lọ hoa, đậy kín, dọn dẹp vật phế thải, lật úp dụng cụ chứa nước (DCCN) sẽ có nguy cơ có bọ gậy cao hơn những HGĐ có thực hành tốt những việc trên; những HGĐ không thông thoáng sạch sẽ, có khả năng có muỗi truyền bệnh SXHD cao gấp 3,2 lần so với nhà thông thoáng, sạch sẽ (với OR = 6,18, KTC 3,15 - 12,13). Kết luận và khuyến nghị: Các chỉ số véc tơ truyền bệnh SXHD điều tra được đều nằm ở mức nguy cơ cao so với quy định của Bộ Y tế. Trạm Y tế cần lập kế hoạch và tổ chức thực hiện việc diệt bọ gậy 1 tuần/1 lần, hướng dẫn người dân chú ý thay nước lọ hoa cắm cây xanh hàng tuần, thu gom loại trừ phế thải, làm nắp đậy kín các DCCN lớn và vừa, thả cá Bảy màu, vệ sinh nhà cửa thông thoáng, sạch sẽ.

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Chi phí điều trị trực tiếp Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính từ góc độ bảo hiểm y tế, hộ gia đình và một số yếu tố liên quan tại khoa Bệnh phổi mạn tính, Bệnh viện Phổi Trung ương năm 2019

Mục tiêu : Tính toán chi phí điều trị của người bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (PTNMT), Bệnh viện Phổi Trung ương và xác định một số yếu tố liên quan từ góc độ bảo hiểm y tế, hộ gia đình. Phương pháp nghiên cứu : Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, kết hợp định lượng và định tính. Số liệu định lượng được thu thập trên 228 đối tượng từ tháng 06/2019 đến 08/2019 tại khoa Bệnh phổi mạn tính, Bệnh viện Phổi Trung ương, Hà Nội. Sau đó, phỏng vấn sâu Lãnh đạo khoa và phòng liên quan, đồng thời thảo luận nhóm người bệnh và người chăm sóc người bệnh để làm sáng tỏ, giải thích sự tăng lên của các cấu phần chi phí điều trị bệnh. Kết quả : Chi phí điều trị trực tiếp trung bình trong một đợt điều trị là 18.331.523 VNĐ, trung vị là 12.304.700 VNĐ, chi phí trung bình thấp nhất ở người bệnh giai đoạn II và không sử dụng bảo hiểm y tế là 4.147.900 VNĐ, cao nhất người bệnh giai đoạn IV, thở máy, nhiễm khuẩn bệnh viện được bảo hiểm chi trả 100% với tổng chi phí điều trị là 67.556.000 VNĐ. Chi phí điều trị dành cho y tế cao nhất ở chi phí thuốc (38,72%). Trong nhóm chi phí không dành cho y tế của hộ gia đình cao nhất ở chi phí ăn uống, chiếm 25,98%, tiếp đến chi phí đi (25,03%). Một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu như nhiều tuổi, nam giới, nghề nghiệp công nhân, nông dân tiếp xúc môi trường ô nhiễm độc hại và khói bụi, trình độ học vấn thấp, không có gia đình, đã và đang hút thuốc lá nhiều, chỉ số BMI thấp, đặc điểm lâm sàng như giai đoạn nặng, nhóm GOLD, phương pháp điều trị (thở oxy, thở máy), mắc nhiều bệnh kèm theo, bị nhiễm khuẩn bệnh viện làm gia tăng chi phí điều trị của người bệnh. Khuyến nghị: Đối với bệnh viện: cần rà soát và tăng cường giám sát việc sử dụng thuốc kháng sinh tại bệnh viện, nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc, hoàn thiện phác đồ điều trị nhằm giảm ngày điều trị, từ đó giảm chi phí điều trị cho người bệnh. Đặt ra mức trần ngày điều trị theo giai đoạn và phác đồ điều trị, giảm bớt gánh nặng cho hộ gia đình không có khả năng tài chính. Đối với khoa phòng chức năng: Khoa dinh dưỡng tiết chế, xây dựng thực đơn, cung cấp các dịch vụ ăn uống đến người bệnh và người nhà với giá thành hợp lý. Khoa nhiễm khuẩn bệnh viện tăng cường kiểm tra, duy trì, đồng thời tìm phương hướng hành động làm giảm tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện. Xây dựng mô hình tư vấn, phòng chống hút thuốc lá, thực hiện tuân thủ điều trị tại nhà.

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Thực trạng tuân thủ rửa tay thường quy của điều dưỡng và một số yếu tố liên quan tại bốn khoa lâm sàng, Bệnh viện Bà Rịa năm 2019

Mục tiêu: Nghiên cứu được thực hiện nhằm mô tả thực trạng tuân thủ rửa tay thường quy (RTTQ) và một số yếu tố liên quan tới tuân thủ RTTQ của điều dưỡng tại 4 khoa Nội, Ngoại, Sản, Nhi của Bệnh viện Bà Rịa, Vũng Tàu năm 2019. Phương pháp nghiên cứu: Thiết kế mô tả cắt ngang có phân tích. Tổng số có 268 lượt quan sát RTTQ của điều dưỡng được thực hiện thông qua bảng kiểm quan sát. Kiểm định khi bình phương, tỉ suất chênh với 95% được áp dụng trong phân tích số liệu, với mức ý nghĩa p<0,05. Kết quả:   Tổng số có 268 cơ hội cần rửa tay được quan sát, trong đó tỉ lệ có thực hiện rửa tay là 86,6%. Tỉ lệ tuân thủ RTTQ ở điều dưỡng là 36,9% (tính trên cơ hội được quan sát), trong đó cơ hội được tuân thủ nhiều nhất là “Sau khi tiếp xúc với người bệnh” (50%), tiếp theo là cơ hội “Trước khi làm thủ thuật vô khuẩn” (45,7%), tỉ lệ tuân thủ RTTQ thấp nhất là cơ hội “sau khi tiếp xúc với máu và dịch của bệnh nhân” (33,1%). Một số yếu tố có xu hướng liên quan đến việc tăng tuân thủ RTTQ của điều dưỡng gồm ca làm việc buổi sáng, rửa tay bằng cồn hoặc dung dịch sát khuẩn. Các điều dưỡng tại khoa Nội có xu hướng tuân thủ RTTQ cao hơn so với các khoa còn lại. Kết luận : Cần tìm hiểu thực trạng tuân thủ RTTQ trên quy mô toàn bệnh viện, chú trọng giám sát tuân thủ RTTQ ở các khoa trong đó có Khoa Nhi, các ca làm việc, đặc biệt là ca chiều để tăng tỉ lệ tuân thủ RTTQ của điều dưỡng.

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Tiếp cận bảo hiểm y tế trong khám chữa bệnh của người nhiễm HIV/AIDS tại phòng khám ngoại trú BVĐK Đống Đa, Hà Nội năm 2019

Mục tiêu: Bài viết nhằm mô tả thực trạng tiếp cận bảo hiểm y tế (BHYT) trong khám, chữa bệnh của người nhiễm HIV/AIDS tại Phòng khám ngoại trú - Bệnh viện đa khoa (BVĐK) Đống Đa, năm 2019. Phương pháp nghiên cứu: Bài viết sử dụng số liệu định lượng từ một nghiên cứu sử dụng thiết kế cắt ngang, định lượng kết hợp với định tính. Có 283 người nhiễm HIV/AIDS được chọn vào nghiên cứu theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên từ tháng 4 đến tháng 6/2019. Phân tích thống kê mô tả được áp dụng sử dụng phần mềm SPSS 16.0. Số liệu định tính được phân tích theo chủ đề. Kết quả: Tỷ lệ người nhiễm HIV/AIDS có thẻ BHYT là 84,8%, có dự định tiếp tục mua BHYT là 91,9%. Một số lý do mua thẻ BHYT của người nhiễm là do nhiễm HIV/AIDS (51,6%), để phòng khi ốm đau (50%), do thường xuyên ốm đau (42,3%). Lý do chính không mua thẻ BHYT là sợ lộ thông tin, sợ bị kỳ thị phân biệt đối xử (69,8%). Kết luận và khuyến nghị: Tỷ lệ người nhiễm HIV/AIDS có thẻ BHYT 84,8%, trong đó sợ lộ thông tin và sợ bị kỳ thị phân biệt đối xử là rào cản chính với tiếp cận BHYT. Do vậy, Bệnh viện cần khuyến khích người nhiễm HIV có thẻ BHYT và sử dụng thẻ BHYT để khám chữa bệnh thông qua rà soát các đối tượng chưa có BHYT, có BHYT nhưng không sử dụng BHYT, đồng thời hướng dẫn, giải thích cho người nhiễm, tiếp tục tư vấn, cung cấp thông tin rõ ràng về bệnh và các lợi ích và thông tin cần thiết về BHYT cho người nhiễm HIV/AIDS ngay tại phòng khám ngoại trú. Cần tăng cường tập huấn cho nhân viên y tế và người nhà để giảm thiểu sự kỳ thị, phân biệt đối xử đối với người nhiễm.

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Thực trạng thành tích xuất bản quốc tế của các trường đại học, khoa và viện nghiên cứu Y Dược tại Việt Nam năm 2019

Mục tiêu: Mô tả thành tích xuất bản quốc tế của các trường đại học, khoa, viện đào tạo và nghiên cứu Y Dược tại Việt Nam năm 2019. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang. Đối tượng nghiên cứu gồm toàn bộ 2.200 giảng viên (GV), nghiên cứu viên (NCV) của 56 trường đại học, khoa, viện nghiên cứu Y Dược ở Việt Nam có hồ sơ trên cơ sở dữ liệu (CSDL) ResearchGate (RG) tính đến tháng 6/2019. Kết quả: 5 đơn vị có tỷ lệ GV, NCV có từ 30 bài báo quốc tế trở lên cao nhất là Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương (VVSDTTW) (15,8%), trường Đại học Y tế công cộng (ĐHYTCC) (11,5%), trường Đại học Tôn Đức Thắng (ĐHTĐT) (9,5%), Khoa Y Dược trường Đại học Quốc Gia Hà Nội (5,5%) và Trường Đại học Y Hà Nội (3,1%). Dựa trên chỉ số h-index là thước đo năng suất xuất bản quốc tế và ảnh hưởng của công trình nghiên cứu đến cộng đồng khoa học quốc tế thể hiện ở số lượt đượt trích dẫn, kết quả phân tích cho thấy tỷ lệ GV, NCV có h-index ³ 10 cao nhất ở VVSDTTW (19,3%), trường ĐHYTCC (9%), Học viện Quân Y (5%), trường ĐHTĐT (4,8%) và trường ĐH Nguyễn Tất Thành (3,8%). Kết luận: Thành tích xuất bản quốc tế của phần lớn các đơn vị đào tạo, nghiên cứu Y Dược tại Việt Nam còn khá hạn chế. Nhìn chung các đơn vị đào tạo, nghiên cứu YTCC có các chỉ số thành tích xuất bản quốc tế cao hơn so với nhóm y học và dược.

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Thực trạng hệ thống thông tin cảnh báo dịch bệnh truyền nhiễm và sự kiện y tế công cộng tại tỉnh Quảng Ninh năm 2019

Mục tiêu : 1) Mô tả kết quả thực hiện hệ thống thông tin cảnh báo bệnh truyền nhiễm (BTN) và các sự kiện y tế công cộng tại tỉnh Quảng Ninh, tháng 4/2019; và 2) Đánh giá chất lượng thông tin báo cáo của hệ thống giám sát BTN tại tỉnh Quảng Ninh, tháng 4/2019. Phương pháp : Với thiết kế mô tả cắt ngang, nghiên cứu được tiến hành tại toàn bộ 7 bệnh viện tỉnh/huyện, 14 trung tâm Y tế huyện, thị xã, thành phố và 40/186 trạm Y tế xã/phường trong tỉnh Quảng Ninh từ tháng 01-06/2019. Thông tin được thu thập từ báo cáo trường hợp bệnh, báo cáo tháng BTN trên phần mềm TT54, báo cáo dựa trên sự kiện (EBS) trong tháng 4/2019, và các cán bộ làm công tác báo cáo BTN. Số liệu được nhập và xử lý bằng phần mềm Excel. Kết quả: 100% đơn vị đã phân công cán bộ làm đầu mối báo cáo BTN trực tuyến theo TT54 và báo cáo giám sát theo sự kiện; 100% các đơn vị đều đảm bảo có tốc độ đường truyền Internet tốt phục vụ cho công tác thống kê, báo cáo. Tuy nhiên, có tới 44,2% số đơn vị còn thiếu máy tính; chỉ có 55,7% số đơn vị ghi nhận dấu hiệu cảnh báo về sự kiện y tế công cộng. Thêm vào đó, 73,7% số ca bệnh nhập trễ trên phần mềm theo thông tư 54; có tới 82,5% ca bệnh điều trị ngoại trú và 72,6% ca bệnh khám và điều trị tại trạm Y tế bị bỏ sót không báo cáo trong hệ thống. Kết luận : Cần có giải pháp để nâng cao chất lượng hệ thống giám sát tại tất cả các tuyến, xây dựng hệ thống liên thông số liệu nhằm thu thập đầy đủ, chính xác và kịp thời thông tin về BTN.

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Đổi mới hệ thống y tế dự phòng: nghiên cứu quá trình triển khai trung tâm kiểm soát bệnh tật tuyến tỉnh tại Việt Nam

Mục tiêu: Nghiên cứu đánh giá quá trình triển khai trung tâm kiểm soát bệnh tật (CDC) tại tuyến tỉnh ở cả nước từ năm 2015 đến nay, và phân tích một số thuận lợi và khó khăn tới quá trình triển khai. Phương pháp nghiên cứu : Nghiên cứu áp dụng thiết kế mô tả cắt ngang, kết hợp định lượng và định tính tại tất cả 63 tỉnh trong thời gian từ tháng 4-7 năm 2019. Nghiên cứu định lượng thực hiện qua 63 bộ phiếu do Sở Y tế/CDC tỉnh tự điền; và nghiên cứu định tính thực hiện thông qua phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm với 52 đối tượng (15 phỏng vấn sâu, 4 thảo luận nhóm) tại Hà Nội, Lào Cai, Đăk Nông và Bà Rịa Vũng Tàu. Số liệu định lượng được phân tích bằng phần mềm SPSS và số liệu định tính được phân tích bằng cách mã hóa theo chủ đề trên phần mềm Mindjet Mindmanager. Kết quả : Quá trình chuẩn bị triển khai CDC tại Việt Nam từ năm 2012-2016, mô hình thí điểm được thực hiện năm 2017. Tới 7/2019, đã có 52/63 tỉnh trên cả nước đã triển khai thành lập CDC, 7 tỉnh có đề án chờ phê duyệt, chỉ còn 4 tỉnh chưa có đề án thành lập. Việc triển khai CDC tuyến tỉnh được thực hiện đảm bảo đúng theo lộ trình của Bộ Y tế. Quá trình triển khai CDC tuyến tỉnh tương đối thuận lợi, đặc biệt sau khi ra đời thông tư 26/2017/BYT. Một số khó khăn ban đầu khi triển khai liên quan đến dôi dư nhân sự hành chính, không có trụ sở làm việc chính, và quản lý tài chính. Kết luận: Nghiên cứu khuyến nghị trao đổi kinh nghiệm giữa các tỉnh đã và sẽ triển khai CDC nhằm học tập, rút kinh nghiệm trong việc phân công nhiệm vụ, quản lý, và triển khai công việc hiệu quả hơn.