Mục tiêu: Salmonella spp. là một loại vi khuẩn dễ lây nhiễm qua đường thực phẩm gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Nghiên cứu này nhằm xác định thực trạng nhiễm Salmonella và vi khuẩn tổng số trên thịt lợn từ các loại hình kinh doanh hiện đại và truyền thống trên địa bàn quận Cầu Giấy, Hà Nội. Phương pháp: nghiên cứu cắt ngang thu thập 288 mẫu thịt lợn từ 3 nhóm cơ sở kinh doanh khác nhau để đánh giá định tính và định lượng mức độ nhiễm Salmonella. Trong đó 170 mẫu tiếp tục được phân tích vi khuẩn tổng số. Ngoài ra, nhóm nghiên cứu tiến hành quan sát, đánh giá một số điều kiện an toàn thực phẩm tại các cơ sở kinh doanh thịt lợn. Chúng tôi nhập dữ liệu bằng phần mềm Excel 2016 và tiến hành phân tích thống kê mô tả bằng STATA 12. Kết quả: Tỉ lệ nhiễm Salmonella tại các cửa hàng kinh doanh thịt lợn truyền thống là 70,7%. Con số này ở các cửa hàng hiện đại, quầy hàng dịch vụ ăn uống lần lượt là 58% và 80,5%. Tỉ lệ thấp (2-12%) các mẫu thịt lợn thu thập trên địa bàn nghiên cứu đạt tiêu chuẩn cho phép về chỉ tiêu vi khuẩn tổng số (QCVN 8-3:2012). Kết luận: Nghiên cứu cho thấy các chuỗi giá trị thịt lợn chưa đảm bảo được chất lượng sản phẩm thịt lợn về vi sinh. Cần các biện pháp can thiệp xuyên suốt chuỗi giá trị thay vì tập trung vào một vài nhân tố trong chuỗi.
Mục tiêu: Mô tả thực trạng tuân thủ điều trị (TTĐT) Methadone và một số yếu tố liên quan của bệnh nhân tại cơ sở điều trị Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS tỉnh Đắk Lắk năm 2018. Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, phương pháp chọn mẫu toàn bộ, được thực hiện từ tháng 02 đến tháng 7 năm 2018; Đối tượng nghiên cứu gồm 277 bệnh nhân nghiện ma túy đang điều trị Methadone tại Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS tỉnh Đắk Lắk. Kết quả: Tỷ lệ TTĐT của bệnh nhân là 63,5%. Những lý do không TTĐT bao gồm: 64,4% bận công việc, 21,8% quên uống thuốc, 5% khó khăn về đi lại lý do khác chiếm 6,9%. Yếu tố liên quan đến TTĐT của bệnh nhân bao gồm: kinh tế không tự lo được cho bản thân có tỷ lệ không TTĐT cao gấp 2 lần so với đối tượng có kinh tế tự lo được cho bản thân, với OR= 2,03, 95%CI (1,22-3,38), nghề tự do không TTĐT cao gấp 2 lần nghành nghề khác (OR=2,0, 95%CI: 1,22 – 3,29. Bệnh nhân có số năm sử dụng ma túy hơn 10 năm không TTĐT cao gấp 1,7 lần so với nhóm sử dụng ma túy dưới 10 năm (OR= 1,68 và 95% CI (1,02-2,74)). Kết luận: Tỷ lệ TTĐT Methadone của đối tượng nghiên cứu chưa cao, lý do chính của việc không tuân thủ chủ yếu là do bận công việc. Yếu tố kinh tế không tự lo được cho bản thân và tình trạng sử dụng ma túy lâu năm (trên 10 năm) là những yếu tố liên quan đến TTĐT Methadone. Cần bổ sung nội dung tư vấn hỗ trợ việc làm cho bệnh nhân, đồng thời, phối hợp với Sở Lao động - Thương binh và xã hội tỉnh giới thiệu việc làm cho những bệnh nhân chưa có công việc ổn định.
Mục tiêu: Mô tả một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng ghi chép hồ sơ bệnh án nội khoa nội trú tại Trung tâm Y tế huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp định lượng và định tính được thực hiện từ tháng 02/2017 đến tháng 6/2017 tại Trung tâm Y tế huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh. Đối tượng nghiên cứu định lượng gồm 300 hồ sơ bệnh án nội khoa nội trú. Số liệu định tính được thu thập thông qua phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm các cán bộ các khoa phòng, điều dưỡng và giám định viên. Kết quả: Tỷ lệ ghi chép hồ sơ bệnh án đạt yêu cầu là 74%. Chất lượng ghi chép hồ sơ bệnh án bị ảnh hưởng do các yếu tố như nhận thức, ý thức, trình độ chuyên môn của nhân viên y tế, công tác chỉ đạo, kiểm tra, giám sát; công tác bình bệnh án, quy chế thi đua, thưởng phạt, công tác đào tạo, tập huấn, áp lực công việc, tình trạng quá tải, nhiều biểu mẫu, tờ phơi nội dung ghi trùng lặp và tình trạng có hay không có thẻ bảo hiểm y tế của người bệnh cũng có ảnh hưởng tới chất lượng ghi chép hồ sơ bệnh án. Kết luận và khuyến nghị: Cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, nâng cao chất lượng ghi chép hồ sơ bệnh án, đồng thời triển khai ứng dụng bệnh án điện tử.
Đây là một nghiên cứu cắt ngang, kết hợp định lượng và định tính được thực hiện tại Khoa Nội Tim mạch-Lão học, Bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hòa từ tháng 2-8/2018 nhằm đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ tư vấn, hướng dẫn giáo dục sức khỏe (GDSK) của điều dưỡng và phân tích một số yếu tố ảnh hưởng. Số liệu định lượng thu thập từ bộ câu hỏi phỏng vấn 270 người bệnh và 120 lượt quan sát thực hành của điều dưỡng, và được phân tích bằng SPSS 16.0. Thông tin định tính thu thập từ 03 cuộc phỏng vấn sâu và 02 cuộc thảo luận nhóm được phân tích theo chủ đề. Kết quả cho thấy người bệnh đánh giá điều dưỡng có thực hiện 8 hoạt động trong nhiệm vụ tư vấn, hướng dẫn GDSK với tỷ lệ từ 67,5-90%; tuy nhiên, qua quan sát thực hành, chỉ có 62,5% điều dưỡng được đánh giá “đạt” khi thực hiện nhiệm vụ. Yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ tư vấn, hướng dẫn GDSK cho người bệnh của điều dưỡng bao gồm: số lượng người bệnh phải chăm sóc; hoạt động đào tạo, bồi dưỡng kiến thức; và hoạt động kiểm tra, giám sát hỗ trợ.
Thiếu máu thiếu Sắt (TMTS) là loại thiếu máu phổ biến trong thời kỳ mang thai. TMTS làm tăng nguy cơ mắc bệnh và tử vong của cả bà mẹ, thai nhi, tăng nguy cơ bệnh tim mạch, chậm phát triển trí tuệ của trẻ sau này. Mục tiêu: Nghiên cứu này được tiến hành với mục tiêu xác định thực trạng TMTS ở phụ nữ mang thai (PNMT) người M’Nông, tỉnh Đắk Nông năm 2019 để có bằng chứng cho các can thiệp hiệu quả. Đối tượng và phương pháp: nghiên cứu cắt ngang 145 PNMT người M’Nông tại xã Đắk R’tih, huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông. Xét nghiệm Hemoglobin (Hb) và Ferritin để xác định TMTS. Đo Hb bằng máy NiHon Kohden (Pháp, 2015) và định lượng Ferritin bằng phương pháp Elisa. Kết quả: Tỷ lệ thiếu máu ở PNMT người M’Nông là 37,9%, TMTS là 33,8%. Tỷ lệ TMTS chiếm 89,0% trong số PNMT thiếu máu. TMTS tăng theo các giai đoạn của thai kỳ, tỷ lệ ở 3 tháng đầu, giữa và cuối theo thứ tự là 12,2%, 32,7% và 55,1%. Tỷ lệ TMTS rất cao (57,1%) ở phụ nữ có từ 3 con trở lên. Kết luận: Thiếu Sắt là nguyên nhân chính gây thiếu máu ở PNMT M’Nông, cao nhất ở 3 tháng cuối của kỳ thai và ở các bà mẹ có từ 3 con trở lên. Can thiệp bổ sung Sắt cho PNMT, đặc biệt là các PNMT từ lần thứ 3 cần được triển khai ở địa bàn nghiên cứu.
Nghiên cứu sử dụng bộ công cụ WISN (Workload Indicators of Staffing Need: Bộ chỉ số về khối lượng công việc để tính nhu cầu nhân lực y tế) để đánh giá khối lượng công việc điều dưỡng và phân tích một số yếu tố ảnh hưởng tới khối lượng công việc tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ năm 2016 với 2 mục tiêu chính: 1/ Xác định khối lượng công việc và nhu cầu nhân lực của điều dưỡng tại 3 khoa năm 2016 và 2/ Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng tới khối lượng công việc của điều dưỡng tại 3 khoa. Nghiên cứu sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang kết hợp định lượng và định tính, rà soát số liệu thứ cấp. Đối tượng là 54 điều dưỡng tại 1 khoa ngoại và 2 khoa nội của bệnh viện. Kết quả nghiên cứu cho thấy: sự phân bổ nhu cầu nhân lực ở các khoa chưa phù hợp với nhân lực hiện có. Năm 2016 Khoa Nội Tiêu hoá huyết học lâm sàng thiếu 5 điều dưỡng, điều dưỡng các khoa này chịu áp lực công việc rất lớn. Ngược lại, khoa Ngoại Niệu thừa 2 điều dưỡng, và khoa Nội Thần kinh đủ điều dưỡng. Điều dưỡng 2 khoa này không chịu áp lực công việc. Nghiên cứu cũng phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến khối lượng công việc của điều dưỡng: Sắp xếp bố trí nhân lực chưa phù hợp, nhu cầu sử dụng dịch vụ y tế của người bệnh tăng, thủ tục hành chính phức tạp, sắp xếp bố trí các khoa phòng chưa phù hợp ảnh hưởng tới khối lượng công việc của điều dưỡng tại bệnh viện. Khuyến nghị: Sắp xếp thời gian nghỉ hợp lý để đảm bảo đủ nhân lực làm việc, giảm tải các thủ tục hành chính, tập trung nhân lực cho công việc dịch vụ y tế. Bên cạnh đó, ứng dụng bộ công cụ WISN giúp xác định nhu cầu nhân lực trong bệnh viện.
Mục tiêu: Nghiên cứu nhằm mô tả nhu cầu đào tạo cử nhân kỹ thuật (CNKT) phục hồi chức năng (PHCN), cung cấp thông tin cho trường Đại học Y tế công cộng quyết định và tổ chức đào tạo mã ngành này đáp ứng nhu cầu xã hội. Phương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu cắt ngang sử dụng số liệu định tính, định lượng và số liệu thứ cấp. Thông tin thu được từ mẫu định lượng gồm 116 người, phỏng vấn sâu 10 cán bộ PHCN tại cơ sở công lập và tư nhân ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và Hải Dương. Kết quả: Việc đào tạo phù hợp với nhu cầu và chính sách của Bộ Y tế, được thể hiện trong Kế hoạch quốc gia phát triển ngành PHCN tại Việt Nam. Có 89,6% nhân lực làm trực tiếp trả lời cần tăng cường đào tạo CNKT PHCN và tỉ lệ CNKT ra trường có việc làm ổn định đúng ngành rất cao (97%). Nhu cầu đào tạo vật lý trị liệu là chính, kết hợp các nội dung ngôn ngữ trị liệu và hoạt động trị liệu, đào tạo lấy thực hành là trọng tâm. Kết luận: Cần tăng cường thời lượng thực hành lâm sàng, tập trung vào đào tạo vật lý trị liệu kết hợp với chuyên ngành ngôn ngữ trị liệu và hoạt động trị liệu sẽ đáp ứng tốt hơn yêu cầu hành nghề PHCN trong tương lai.
Văn hóa an toàn người bệnh (VHATNB) là một biện pháp quan trọng trong việc đánh giá chất lượng chăm sóc sức khỏe. Ngày càng có nhiều sự thừa nhận về nhu cầu thiết lập văn hóa bệnh viện tập trung vào sự an toàn của người bệnh. Lãnh đạo Bệnh viện Đa khoa Đống Đa luôn muốn xây dựng một bệnh viện lấy người bệnh làm trung tâm, nên việc thực hiện nghiên cứu về “Văn hóa an toàn người bệnh” tại bệnh viện là thực sự cần thiết. Mục tiêu: Mô tả thực trạng VHATNB của nhân viên y tế tại Bệnh viện Đa khoa Đống Đa năm 2019. Đối tượng nghiên cứu: 273 nhân viên y tế (NVYT) bao gồm bác sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên, dược sĩ, hộ lý đang công tác ở các khoa lâm sàng và cận lâm sàng tại Bệnh viện Đa khoa Đống Đa, tối thiểu làm việc tại Bệnh viện từ 6 tháng trở lên tại thời điểm nghiên cứu. Kết quả: Tỷ lệ đáp ứng tích cực văn hóa an toàn người bệnh của NVYT theo nghiên cứu là 74%, tỷ lệ phần trăm về đáp ứng tích cực theo 12 khía cạnh có tỷ lệ đáp ứng tích cực cao nhất là “làm việc theo ê kíp trong khoa phòng” chiếm 91,6% và thấp nhất là “tần suất ghi nhận sự cố” chiếm 65,9%. Kết luận và khuyến nghị: Để thực hiện tốt VHATNB, cần có giải pháp đồng bộ từ việc cải tạo cơ sở vật chất, đầu tư trang thiết bị làm sao môi trường làm việc đảm bảo an toàn, tiện nghi thuận tiện cho NVYT đến việc tiếp tục tổ chức đào tạo tập huấn chuyên môn, giao tiếp để NVYT nâng cao nhận thức trong việc thực hiện đảm bảo ATNB. Ngoài ra việc chuẩn hóa, xây dựng các quy trình, quy định và giám sát tuân thủ quy trình, quy định cần tiếp tục đẩy mạnh để hạn chế nhất các sai sót có thể xảy ra.
Mục tiêu: Mô tả thực trạng và phân tích các yếu tố liên quan đến việc cho trẻ từ 3 đến 5 tuổi ở quận Cầu Giấy, Hà Nội sử dụng điện thoại thông minh (ĐTTM). Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang tại 3 trường mầm non ở quận Cầu Giấy từ T6-T12/2018. Đối tượng là cha mẹ có con từ 3 đến 5 tuổi đang học tại 3 trường mầm non nói trên. Kết quả: Tỷ lệ trẻ được cho sử dụng ĐTTM là 52,3%, trong đó 50,9% trẻ được cho sử dụng ĐTTM trước 3 tuổi. Thời gian sử dụng ĐTTM trong một ngày của trẻ dưới 30 phút là 47,8%; từ 30 phút đến dưới 1 giờ là 40%. Có mối liên quan giữa việc cho trẻ sử dụng ĐTTM với số lượng ĐTTM của gia đình (p<0,05); sự đồng ý của cha mẹ về việc ĐTTM giúp họ có thêm thời gian hoàn thành công việc (p<0,05); và giúp trẻ ăn uống dễ dàng hơn (p<0,05). Kết luận: Tỷ lệ trẻ được sử dụng ĐTTM là khá cao, đặc biệt ở nhóm trẻ dưới 3 tuổi. Các yếu tố quan trọng có liên quan đến việc sử dụng ĐTTM ở trẻ đều là các yếu tố thuộc về cha mẹ và gia đình. Nhà trường, gia đình nên có những biện pháp phối hợp để giảm thiểu tỷ lệ này