📚 Mục lục — Tập 3 Số 01 (2019): Tập 03, Số 01-2019
Xem Tất cả Các số ›
TẠP CHÍ JHDS 2019
Tạp chí Khoa học Nghiên cứu Sức khỏe và Phát triển
📅 Tập 3 Số 01 (2019): Tập 03, Số 01-2019
ISSN: 2588-1442 (điện tử) · 2588-1442 (in)
Nghiên cứu gốc (Original papers)
Tỷ lệ hiện mắc rối loạn phổ tự kỷ ở trẻ em 18-30 tháng tuổi và một số yếu tố liên quan tại tỉnh Hòa Bình, năm 2017

Mục tiêu: Rối loạn phổ tự kỷ (RLPTK) là một rối loạn phát triển ở trẻ em, hiện có xu hướng gia tăng trên thế giới và tại Việt Nam. Nghiên cứu này nhằm xác định tỷ lệ hiện mắc RLPTK và tìm hiểu một số yếu tố liên quan (cá nhân và gia đình) ở trẻ 18 – 30 tháng tuổi tại tỉnh Hòa Bình năm 2017. Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang trên 5893 trẻ 18 – 30 tháng tuổi tại 3 huyện/thành phố tỉnh Hòa Bình, sử dụng công cụ bảng kiểm sàng lọc tự kỷ có chỉnh sửa (M-CHAT) để sàng lọc phát hiện trẻ có nguy cơ RLPTK tại cộng đồng. Toàn bộ trẻ dương tính (101 trẻ) và khoảng 2,5% số trẻ âm tính (155 trẻ) với M-CHAT được mời khám chẩn đoán, trong đó 97 trẻ dương tính và 149 trẻ âm tính đã được các chuyên gia khoa Tâm thần, bệnh viện Nhi trung ương chẩn đoán RLPTK theo sổ tay thống kê chẩn đoán các rối loạn tâm thần (DSM-IV). Chúng tôi tiến hành nhập số liệu bằng Epidata 3.1 và phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 20.0. Kết quả: Tỷ lệ hiện mắc RLPTK ở trẻ 18 – 30 tháng tuổi tại địa bàn nghiên cứu là 7,3‰. Tỷ lệ này có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở bé trai, trẻ sống ở thành thị, gia đình có người mắc rối loạn tâm thần kinh hay khuyết tật bẩm sinh, và mẹ trẻ có tiền sử sảy thai hay nạo hút thai. Kết luận: Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ hiện mắc RLPTK ở trẻ em có xu hướng tăng. Tình trạng tự kỷ có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với một số yếu tố cá nhân và gia đình của trẻ. Cần tiến hành thêm nhiều nghiên cứu ở quy mô lớn hơn để tìm hiểu về tỷ lệ hiện mắc RLPTK và một số yếu tố liên quan.

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Thực trạng và các yếu tố liên quan đến sử dụng thuốc kháng sinh không kê đơn của người chăm sóc tại Bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định năm 2018

Mục tiêu: Mô tả thực trạng và các yếu tố liên quan đến thực hành sử dụng thuốc kháng sinh cho trẻ tại năm 2018. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích trên 410 người chăm sóc tại Bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định. Sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện và bộ công cụ cấu trúc được xây dựng dựa trên các nghiên cứu cùng chủ đề để phỏng vấn. Kết quả: 62,2% đối tượng nghiên cứu đã từng tự ý sử dụng thuốc kháng sinh cho trẻ. Mô hình đa biến logistics cho thấy mối liên quan giữa thực hành và các yếu tố trình độ học vấn, số lượng con, bảo hiểm y tế, việc dễ dàng tiếp cận thuốc kháng sinh và nguồn thông tin từ cán bộ Y tế. Kết luận: Tỷ lệ cao người chăm sóc đã tự ý sử dụng thuốc kháng sinh cho trẻ mà không có kê đơn hoặc tham khảo ý kiến của bác sĩ. Do đó, cán bộ y tế cần dành thời gian hướng dẫn sử dụng thuốc kháng sinh đúng cho người chăm sóc nhằm hạn chế tự ý sử dụng thuốc kháng sinh sau khi trẻ xuất viện.

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Thực trạng sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe của bệnh nhân điều trị ARV tại phòng khám ngoại trú, Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh năm 2018

Mục tiêu và phương pháp: Nghiên cứu được thực hiện trên 215 bệnh nhân HIV/AIDS tại phòng khám ngoại trú, Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh trong thời gian từ tháng 01/2018 đến tháng 6 năm 2018 với mục tiêu mô tả thực trạng sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe của bệnh nhân đang điều trị ARV tại phòng khám ngoại trú, Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh năm 2018 và các yếu tố liên quan. Nghiên cứu sử dụng thiết kế cắt ngang. Kết quả nghiên cứu cho thấy: 86% bệnh nhân khi bị ốm trong 6 tháng trước điều tra, có 7,0% không sử dụng gì, 33,0% tự mua thuốc điều trị, 23,4% đến bệnh viện đa khoa tỉnh, 9,2% tới bệnh viện chuyên khoa, 7,0% mời thầy lang tới nhà. 92,9% bệnh nhân khi ốm có thẻ bảo hiểm y tế (BHYT) nhưng chỉ có 56,10% bệnh nhân thanh toán qua BHYT khi sử dụng dịch vụ. Giới tính, bệnh mãn tính, bỏ điều trị ARV, thái độ nhiệt tình của cán bộ y tế và chất lượng dịch vụ tốt có liên quan đến việc sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe của bệnh nhân điều trị ARV (p<0,05). Kết luận: Việc xây dựng cơ chế phối hợp giữa các khoa phòng, cơ sở y tế liên quan trong việc chăm sóc sức khỏe bệnh nhân HIV/AIDS là rất cần thiết. Đồng thời triển khai tập huấn cho cán bộ y tế về giảm kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến HIV tại cơ sở y tế, triển khai chăm sóc điều trị HIV/AIDS theo gói dịch vụ y tế cơ bản cho tuyến y tế cơ sở tại các trung tâm y tế tuyến huyện.

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Thực trạng nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới ở phụ nữ 18-49 tuổi có chồng, tại xã Đồng Phú, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long và một số yếu tố liên quan năm 2018

Mục tiêu : Mô tả thực trạng mắc bệnh và xác định một số yếu tố liên quan đến thực trạng mắc bệnh nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới (NKĐSDD) ở phụ nữ 18-49 tuổi có chồng, tại xã Đồng Phú, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long năm 2018. Phương pháp: Thiết kế nghiên cứu cắt ngang, 420 phụ nữ 18-49 tuổi có chồng được chọn vào mẫu theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên. Đối tượng nghiên cứu được khám phụ khoa và phỏng vấn tại Trạm Y tế xã Đồng Phú. Kết quả : Có 43,6% phụ nữ đang bị NKĐSDD, trong đó viêm âm đạo do tạp trùng chiếm tỷ lệ cao nhất là 36,2%; viêm âm đạo do nấm chiếm tỷ lệ 9,3%; viêm âm đạo do Trichomonas vaginalis chiếm tỷ lệ 1%. Một số yếu tố liên quan đến NKĐSDD được tìm thấy trong nghiên cứu bao gồm nghề nghiệp, tiền sử phá thai, tuân thủ điều trị nhiễm khuẩn đường sinh sản. Kết luận: Tỷ lệ nhiễm khuẩn đường sinh dục cao với tác nhân gây NKĐSDD cao nhất là tạp khuẩn. Cần tăng cường công tác tư vấn, truyền thông thay đổi hành vi, đặc biệt cho các đối tượng làm vườn, chài lưới, nội trợ; tăng cường truyền thông về tuân thủ điều trị, quản lý tốt các dịch vụ phá thai.

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Phản ứng bất lợi của thuốc điều trị lao phác đồ 1 trên các bệnh nhân lao điều trị tại trung tâm y tế thành phố Châu Đốc, An Giang năm 2017-2018

Mục tiêu: Nghiên cứu được thực hiện nhằm mô tả diễn tiến lâm sàng, và phản ứng bất lợi của thuốc điều trị lao phác đồ 1 trên các bệnh nhân lao quản lý điều trị tại Trung tâm Y tế thành phố Châu Đốc tỉnh An Giang năm 2017- 2018 và một số yếu tố liên quan. Phương pháp: Thiết kế nghiên cứu dọc, có 122 bệnh nhân lao quản ý điều trị tại 07 Trạm Y tế trên địa bàn thành phố Châu Đốc trong khoảng thời gian từ tháng 08 đến tháng 12 năm 2017 được đưa vào nghiên cứu. Bệnh nhân đã được khám, đánh giá tình trạng sức khoẻ ở giai đoạn bắt đầu vào điều trị và tiếp tục được theo dõi sức khỏe, diễn tiến điều trị trên lâm sàng cho đến khi kết thúc điều trị. Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi qui tuyến tính đa biến để xem xét các yếu tố liên quan đến phản ứng bất lợi của thuốc điều trị lao. Kết quả:  Sau 20 tuần điều trị chỉ có 4/122 bệnh nhân (3,5%) vẫn còn những triệu chứng bệnh. 48 biểu hiện ADR của thuốc lao trên lâm sàng xảy ra ở 46 bệnh nhân. Những bệnh nhân gày yếu, hoàn cảnh kinh tế nghèo, sử dụng rượu bia có nguy cơ xuất hiện các bất thường về sức khỏe trên lâm sàng cao hơn nhóm còn lại. Kết luận : cần kiểm tra sức khỏe toàn diện của bệnh nhân lao khi bắt đầu tham gia điều trị, tập trung khuyến cáo cho bệnh nhân các yếu tố có thể làm gia tăng các phản ứng bất lợi của thuốc như bệnh nhân gày, tình trạng uống rượu hay các bệnh nhân có tình trạng kinh tế nghèo.

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Kết quả một số can thiệp tăng cường kết nối người nhiễm HIV tới điều trị tại Ninh Bình năm 2015-2016

Mục tiêu: Nghiên cứu can thiệp được thực hiện nhằm đánh giá kết quả can thiệp tăng cường kết nối người nhiễm HIV tới điều trị tại Ninh Bình. Phương pháp nghiên cứu : Sử dụng thiết kế nghiên cứu tiền thực nghiệm, đánh giá trước-sau trên toàn bộ người nhiễm HIV phát hiện trong năm 2014 và năm 2016. Các can thiệp triển khai gồm thử nghiệm sử dụng phần mềm hỗ trợ chuyển gửi, đào tạo cho cán bộ y tế và đồng đẳng viên/nhân viên tiếp cận cộng đồng. Thông tin về đối tượng và tiếp cận điều trị được thu thập hồi cứu từ số liệu thứ cấp. Kết quả nghiên cứu : Tỷ lệ người nhiễm tiếp cận điều trị sớm (trong vòng 6 tháng) sau can thiệp tăng từ 52% lên 72,7%, trong đó, tỷ lệ vào điều trị ARV tăng từ 80% lên 93,8% (p<0,05). Độ bao phủ điều trị ARV tăng 18,5%, gần gấp đôi mức tăng của toàn quốc trong cùng giai đoạn. Trung vị thời gian từ khi có kết quả dương tính với HIV tới điều trị giảm từ 7 còn 3 ngày. Tuy nhiên vẫn có tới 43,5% bệnh nhân có chỉ số xét nghiệm tế bào CD4 thấp dưới 100/mm 3 khi đăng ký điều trị. Kết luận : Tỷ lệ tiếp cận điều trị của người nhiễm và thời gian từ xét nghiệm đến điều trị sau can thiệp được cải thiện rõ rệt cho thấy ảnh hưởng tích cực của can thiệp. Các giải pháp này nên tiếp tục thực hiện nhưng cần có những điều chỉnh về thiết kế, tổ chức để đảm bảo tính duy trì.

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư và một số yếu tố ảnh hưởng tại Trung tâm Ung bướu và Y học hạt nhân – Bệnh viện Quân y 103

Mục tiêu: Mô tả chất lượng cuộc sống (CLCS) của người bệnh ung thư (NBUT) điều trị nội trú và phân tích một số yếu tố ảnh hưởng tại Trung tâm Ung bướu và Y học hạt nhân – Bệnh viện Quân y 103. Phương pháp nghiên cứu: sử dụng thiết kế cắt ngang có phân tích, kết hợp phương pháp định lượng và định tính. Nghiên cứu định lượng thực hiện qua phỏng vấn 200 NBUT đang điều trị nội trú, sử dụng bộ công cụ EORTC QLQ-C30. Số liệu định tính thu thập qua ba cuộc phỏng vấn sâu với cán bộ y tế và hai cuộc thảo luận nhóm với NBUT. Kết quả: Điểm trung bình CLCS lĩnh vực sức khỏe tổng quát của đối tượng nghiên cứu là 52,0; cao nhất là chức năng cảm xúc 59,8 điểm; thấp nhất là chức năng xã hội 38,3 điểm. Các yếu tố: cơ sở vật chất, hoạt động điều trị, nhân lực và quy trình, quy định đều có ảnh hưởng tích cực đến CLCS NBUT. Những người bệnh đánh giá được điều trị “Rất tốt” có điểm sức khỏe tổng quát cao nhất 58,9. Nhóm nhận được hỗ trợ kinh tế từ xã hội và thường xuyên tiếp xúc với các kênh thông tin có điểm sức khỏe tổng quát cao hơn, tương ứng 60,6 và 59,1. Sự hỗ trợ giữa những người bệnh cũng ảnh hưởng tốt đến CLCS. Kết luận: Để nâng cao CLCS NBUT, cần tiếp tục duy trì, cải thiện hơn nữa cơ sở vật chất; công tác: cấp thuốc, điều trị, đào tạo nhân lực; các yếu tố về quy trình, quy định; cung cấp thông tin về bệnh ung thư; các hoạt động hỗ trợ từ xã hội cũng như giữa những NBUT.

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Kiến thức, thực hành về tiêm an toàn của điều dưỡng, nữ hộ sinh tại Trung tâm Y tế huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước năm 2017

Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả kiến thức, thực hành của điều dưỡng (ĐD), nữ hộ sinh (NHS) về tiêm an toàn (TAT) tại Trung tâm Y tế (TTYT) huyện Lộc Ninh, năm 2017. Phương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang. Địa điểm và thời gian nghiên cứu: từ tháng 02 năm 2017 đến tháng 8 năm 2017 tại các khoa lâm sàng thuộc TTYT huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước. Đối tượng nghiên cứu là 56 ĐD, NHS trực tiếp thực hành tiêm tại các khoa lâm sàng, và quan sát 224 mũi tiêm. Kết quả nghiên cứu: Tỷ lệ ĐD, NHS có kiến thức đạt về tiêm an toàn là 78,6%; những kiến thức có tỷ lệ đạt thấp đều là nội dung mới trong Hướng dẫn TAT: phương thức sát khuẩn da vùng tiêm bằng tăm bông (đạt 37,5%); chỉ định mang khẩu trang (đạt 63,4%); Tỷ lệ ĐD, NHS thực hành TAT đạt là 33,9%. Kết luận: Kiến thức của ĐD, NHS về tiêm an toàn khá cao, trong khi đó thực hành về TAT đạt khá thấp. TTYT cần kiểm tra, giám sát thực hành TAT và thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn cho ĐD, NHS, đặc biệt chú trọng đến các nội dung mới trong Hướng dẫn TAT.

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Đánh giá kiến thức và thực hành phòng chống nhiễm khuẩn vết mổ của cán bộ y tế tại bệnh viện 19.8 năm 2017

Mục tiêu: Đánh giá kiến thức và thực hành về phòng chống nhiễm khuẩn vết mổ (NKVM) của các cán bộ y tế (CBYT), đồng thời xác định các mối liên quan đến kiến thức và thực hành phòng chống NKVM. Phương pháp nghiên cứu : Nghiên cứu mô tả cắt ngang sử dụng bảng hỏi phỏng vấn 197 CBYT tại 10 khoa ngoại của bệnh viện 19.8. Kết quả: 27,4% CBYT tham gia nghiên cứu đạt mức kiến thức về phòng chống NKVM trên trung bình, tuy nhiên có 52,8% CBYT đạt mức kiến thức chăm sóc trước phẫu thuật trên trung bình trong khi 90,4% không đạt mức kiến thức chăm sóc sau phẫu thuật trên trung bình. Tỷ lệ bác sĩ có kiến thức đạt cao hơn điều dưỡng (OR=1,53, p = 0,19). Về thực hành, 100% bác sĩ và 74,2% điều dưỡng có thực hành đạt. Tuy nhiên, không có mối liên quan giữa kiến thức và thực hành phòng chống NKVM của điều dưỡng (p>0,05). Kết luận: Đề xuất một số biện pháp góp phần nâng cao năng lực của CBYT và cải thiện hiệu quả trong chăm sóc phòng ngừa NKVM cho bệnh nhân.