📚 Mục lục — Tập 3 Số 03 (2019): Tập 03, số 03 2019
Xem Tất cả Các số ›
TẠP CHÍ JHDS 2019
Tạp chí Khoa học Nghiên cứu Sức khỏe và Phát triển
📅 Tập 3 Số 03 (2019): Tập 03, số 03 2019
ISSN: 2588-1442 (điện tử) · 2588-1442 (in)
Nghiên cứu gốc (Original papers)
Thực trạng kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV của nhân viên y tế tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Cao Bằng năm 2019

Mục tiêu: mô tả thực trạng kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV của nhân viên y tế và một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Cao Bằng năm 2019. Phương pháp: nghiên cứu cắt ngang thực hiện phát vấn trên 209 nhân viên y tế làm việc tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Cao Bằng từ 4/2019 – 6/2019. Kỳ thị và phân biệt đối xử gồm ba nội dung: nhân viên y tế lo sợ khi tiếp xúc, nhân viên y tế có hành vi bảo vệ quá mức cần thiết và nhân viên y tế có thái độ tiêu cực với người nhiễm HIV. Kết quả: Tỷ lệ kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV của nhân viên y tế là 44,9%. Trong đó, tỷ lệ nhân viên y tế lo sợ lây nhiễm HIV qua tiếp xúc là 48,8%. 49,3% nhân viên y tế có thái độ tiêu cực. 39,2% nhân viên y tế có hành vi bảo vệ quá mức khi chăm sóc người nhiễm HIV. Phân tích hồi quy tuyến tính cho thấy nhân viên y tế được đào tạo/tập huấn về HIV, có kiến thức tốt về HIV/AIDS, tiếp xúc trực tiếp với người nhiễm HIV ít kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV hơn. K ết luận: Tăng cường đào tạo, tập huấn, phổ biến các văn bản, quy định về HIV/AIDS cho nhân viên y tế, tăng cường giám sát các hành vi liên quan đến kỳ thị và phân biệt đối xử tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Cao Bằng.

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Chất lượng cuộc sống và các yếu tố liên quan của người bệnh ung thư đang được điều trị tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Đại học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2019

Mục tiêu: Mô tả chất lượng cuộc sống (CLCS) và xác định các yếu tố liên quan của người bệnh ung thư. Phương pháp nghiên cứu: sử dụng thiết kế nghiên cứu cắt ngang. Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 01/2019 đến 06/2019, tại Bệnh viện Đại học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh (TPHCM), tiến hành trên 318 người bệnh ung thư đang điều trị tại 07 khoa lâm sàng. Kết quả: So với tổng điểm 100 của thang đo EORTC QLQ-C30, điểm trung bình CLCS chung của người bệnh ung thư ở mức thấp với 49,2 ± 6,5 điểm. Lĩnh vực chức năng cao nhất với 54,8 ± 26,1 điểm. Điểm CLCS chung của người bệnh có liên quan đến việc người bệnh được nhân viên y tế (NVYT) đối xử tử tế và tôn trọng (p = 0,036) và sức khỏe tổng quát ở những người bệnh ung thư được Bác sĩ tư vấn rõ ràng và đầy đủ (p = 0,044). Người bệnh ở nhóm tuổi trên 61 tuổi có điểm CLCS chung thấp hơn so với người bệnh trong nhóm tuổi khác (p<0,001). Bên cạnh đó, điểm CLCS của người bệnh có sự khác biệt giữa các nhóm có tôn giáo, trình độ học vấn, hôn nhân, nghề nghiệp, kinh tế bản thân, kinh tế gia đình, loại ung thư và thời gian mắc bệnh khác nhau (p<0,05). Kết luận: Điểm trung bình CLCS chung của người bệnh ung thư ở mức thấp. Có mối liên quan giữa thái độ giao tiếp của NVYT, sự tư vấn của Bác sĩ về việc chọn phương pháp điều trị với điểm CLCS của người bệnh. Các giải pháp liên quan đến tập huấn kỹ năng giao tiếp của NVYT được bệnh viện rất chú trọng. Ngoài ra, hướng đến xây dựng hệ thống hỗ trợ, tư vấn chuyên biệt dành cho người bệnh ung thư.

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Một số yếu tố liên quan đến đi bắt nạt của học sinh trường Trung học cơ sở Trường Yên, huyện Chương Mỹ, Hà Nội, năm 2019

Mục tiêu : Mô tả thực trạng bắt nạt và phân tích một số yếu tố liên quan tới đi bắt nạt của học sinh trường Trung học cơ sở Trường Yên, huyện Chương Mỹ, Hà Nội, năm 2019. Phương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu cắt ngang phân tích, nghiên cứu đã thu thập thông tin của 340 học sinh (lớp 6 - 9) vào tháng 04/2019 qua phát phiếu tự điền. Kết quả : Tỷ lệ học sinh bị bắt nạt là 59,7% và đi bắt nạt là 52,1%. Phân tích đơn biến cho kết quả một số yếu tố liên quan làm tăng nguy cơ đi bắt nạt, bao gồm: không thường xuyên được bố mẹ định hướng, kiểm soát sử dụng Internet và ĐTDĐ OR: 1,56 (1,02 – 2,40); rối nhiễu tâm lý ở mức độ nặng OR: 2,34 (1,43 – 3,82); thường xuyên chứng kiến bố mẹ đánh nhau OR = 4,66 (1,50 – 14,4); không thường xuyên bị bố mẹ/người chăm sóc mắng nhiếc, đánh OR: 1,64 (1,00 – 2,68); có gia đình không hạnh phúc OR: (1,17 – 4,37) và thường xuyên chứng kiến bạo lực nơi sinh sống OR: 3,46 (1,52 – 7,86). Kết luận: Nhà trường và gia đình cần phối hợp chặt chẽ trong việc tuyên truyền, trang bị kiến thức và kỹ năng về phòng chống bắt nạt; xây dựng môi trường học đường và gia đình lành mạnh, hạn chế để các em chứng kiến bạo lực xảy ra. Bên cạnh đó, nhà trường và phụ huynh cần hỗ trợ và kịp thời giải quyết các vấn đề các em gặp phải trong học tập và sinh hoạt nhằm hạn chế các vụ bạo lực đáng tiếc xảy ra. Đồng thời các nhà quản lý cần tăng cường giám sát việc thực hiện các quy định về phòng chống bạo lực tại trường học hiệu quả hơn.

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Bạo lực thể chất của học sinh trường Trung học Phổ thông tư thục Hiệp Hòa 5, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang năm 2019: Thực trạng và một số yếu tố liên quan

Mục tiêu: Mô tả thực trạng và một số yếu tố liên quan đến bạo lực thể chất (BLTC) của học sinh trường trung học phổ thông tư thục Hiệp Hòa 5, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang năm 2019. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang phân tích, kết hợp phương pháp định lượng và định tính. 412 học sinh điền phiếu phát vấn và 11 cuộc phỏng vấn sâu được thực hiện. Kết quả: Trong vòng 6 tháng tính đến thời điểm phát vấn, có 16,7% học sinh thực hiện BLTC và  27,9% học sinh bị BLTC bởi học sinh khác. Học sinh thực hiện BLTC có liên quan đến hạnh kiểm Trung bình/Yếu, ít chia sẻ với gia đình, thường xuyên chứng kiến xung đột tại nơi sống và tiếp xúc với ấn phẩm BLTC. Trong khi đó, nam giới, ít được bạn bè giúp đỡ và ít tham gia chương trình/hoạt động tập thể có liên quan đến học sinh bị BLTC. Ngoài ra, yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng BLTC được tìm hiểu qua phỏng vấn sâu là sự thiếu quan tâm học sinh của thầy cô tại trường học. Kết luận: Tỷ lệ học sinh bị BLTC cao hơn thực hiện BLTC. Tỷ lệ này liên quan đến yếu tố cá nhân, mối quan hệ gia đình, thầy cô, bạn bè và yếu tố xã hội gồm tiếp cận chương trình/ấn phẩm về BLTC. Kết quả đó cho thấy cần chú ý nhiều hơn đến các hoạt động nhằm xây dựng môi trường giáo dục an toàn, thân thiện, đặc biệt là việc tổ chức chương trình/hoạt động tập huấn tại trường học.

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Đánh giá công tác quản lý an toàn thực phẩm đối với các cơ sở sản xuất nước uống đóng chai trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk năm 2018

Mục tiêu: Nghiên cứu đánh giá công tác quản lý an toàn thực phẩm (ATTP) các cơ sở sản xuất (CSSX) nước uống đóng chai (NUĐC) tỉnh Đắk Lắk năm 2018 và một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý. Phương pháp nghiên cứu : Nghiên cứu mô tả cắt ngang. Địa điểm và thời gian nghiên cứu: tại tỉnh Đắk Lắk, từ tháng 01 đến tháng 07 năm 2019. Đối tượng nghiên cứu: 105 hồ sơ quản lý CSSX NUĐC tỉnh Đắk Lắk năm 2018 và các bên liên quan. Kết quả : thực hiện quy trình cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện ATTP đạt 89,5%; xác nhận kiến thức ATTP đạt 81,0%; cấp Giấy tiếp nhận bản công bố hợp quy đạt 90,5%; quy trình thanh tra, kiểm tra đạt 92,3%. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý gồm: các chế độ chính sách hỗ trợ còn nhiều bất cập; số lượng nhân lực chỉ đạt 84%; thiếu trụ sở làm việc và các trang thiết bị chuyên môn; kinh phí chỉ đạt 17,0% so với dự toán. Kết luận : Nghiên cứu cho thấy hoạt động quản lý ATTP đối với các cơ sở NUĐC chưa đáp ứng theo yêu cầu. Cần sự quan tâm đầu tư của các cấp lãnh đạo để cải thiện tình hình quản lý ATTP NUĐC trong thời gian tới.

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự gắn kết với công việc của điều dưỡng viên tại bệnh viện Bạch Mai, năm 2019

Mục tiêu: Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến sự gắn kết với công việc của điều dưỡng viên tại bệnh viện Bạch Mai, năm 2019. Phương pháp nghiên cứu: Cắt ngang, kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính. Nghiên cứu sử dụng bộ công cụ gắn kết với công việc - Utrech Work Engagement (UWES-9) phát vấn trên 291 điều dưỡng viên được chọn ngẫu nhiên tại bệnh viện Bạch Mai và tiến hành 04 cuộc phỏng vấn sâu (PVS) với các lãnh đạo, 03 thảo luận nhóm (TLN) với điều dưỡng trưởng khoa, điều dưỡng viên. Số liệu định lượng được nhập bằng Epidata 3.1 và phân tích bằng phần mềm SPSS phiên bản 22.0. Kết quả: Điểm gắn kết với công việc (UWES-9) của 291 điều dưỡng viên tại bệnh viện Bạch Mai là 4,89 trên thang điểm 6. Các yếu tố ảnh hưởng tích cực bao gồm: tự chủ công việc (r=0,25; p<0,05), sự giám sát, hỗ trợ của cấp trên hay sự hỗ trợ của đồng nghiệp (r=0,28; p<0,05). Nghiên cứu định tính cho thấy các yếu tố về chính sách chi trả, đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật, đào tạo và sự sẵn có về cơ sở vật chất, trang thiết bị có ảnh hưởng tích cực đến sự gắn kết này. Ngược lại, các đòi hỏi, yêu cầu về tâm lý khi thực hiện công việc có ảnh hưởng tiêu cực, tuy nhiên chưa tìm thấy tương quan có ý nghĩa thống kê giữa thành tố yêu cầu tâm lý và sự gắn kết trong nghiên cứu này (r = -0,64, p>0,05). Các yếu tố khác như quá tải bệnh viện, khối lượng công việc có ảnh hưởng tiêu cực, trong khi đó phản hồi của người bệnh và người nhà cũng có ảnh hưởng hai chiều đến sự gắn kết này. Khuyến nghị: Bệnh viện tiếp tục quan tâm cải thiện chính sách chi trả, đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật, đào tạo, đầu tư cơ sở vật chất và trang thiết bị, giảm quá tải và khối lượng công việc nhằm duy trì và tăng cường sự gắn kết với công việc của điều dưỡng viên.

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Thực trạng chăm sóc trong và ngay sau đẻ cho bà mẹ và trẻ sơ sinh người dân tộc Xơ Đăng huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk năm 2019

Mục tiêu: Chăm sóc thiết yếu (CSTY) trong và ngay sau đẻ là các chăm sóc cơ bản đảm bảo an toàn cho bà mẹ, trẻ sơ sinh. Tuy nhiên, còn nhiều bà mẹ - trẻ sơ sinh chưa nhận được đầy đủ CSTY, đặc biệt là bà mẹ dân tộc thiểu số sinh con tại nhà. Nghiên cứu này được thực hiện với mục tiêu mô tả thực trạng CSTY trong và ngay sau sinh cho các bà mẹ Xơ Đăng sinh con tại cơ sở y tế (CSYT) và tại nhà huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk. Đối tượng và phương pháp : nghiên cứu cắt ngang trên 199 bà mẹ Xơ Đăng có con dưới 1 tuổi tại thời điểm điều tra. Sử dụng bộ câu hỏi có cấu trúc phỏng vấn bà mẹ tại nhà về các CSTY cho bà mẹ, trẻ sơ sinh trong và ngay sau đẻ. Kết quả : Tỷ lệ phụ nữ Xơ Đăng sinh con tại CSYT là 41,7% và tại nhà là 58,3%. Các bà mẹ sinh con tại CSYT nhận được các CSTY: tiêm Oxytoxin (90,4%); xoa đáy tử cung (83,1%); uống vitamin A (74,7%), trong khi các bà mẹ sinh con tại nhà nhận được các chăm sóc này với tỷ lệ tương ứng 7%; 0%; 0% và 7%. Trẻ sinh ở CSYT được đặt da kề da trên ngực/bụng mẹ ngay sau đẻ (92%); bú mẹ sớm trong giờ đầu (80,3%); cân (91,6%), tiêm vitamin K1 (71,1%); để rốn hở (100%). Trẻ sinh tại nhà nhận được các chăm sóc đó với tỷ lệ tương ứng là: 12,9%; 44,8%; 8,6%; 6,9% và 81,9%. Đo chiều dài trẻ và tiêm phòng vắc xin Viêm gan siêu vi B ít được thực hiện ở CSYT (21,7% và 49,4%) và hầu như không làm cho trẻ đẻ tại nhà (6,9% và 0%). Bà mẹ Xơ Đăng đẻ tại nhà vẫn duy trì một số tập tục: ngồi/quì sinh con trên sàn nhà (26,8%); Đỡ đẻ là mụ vườn (75%) hoặc bố mẹ (9,4%); Có 18,1% trẻ được băng kín rốn và 9,5% số trẻ phải nằm một mình sau sinh. Kết luận: Bà mẹ sinh con tại CSYT nhận được phần lớn các CSTY cho cả mẹ và con, trong khi rất ít các bà mẹ, trẻ sơ sinh nhận được các chăm sóc đó nếu sinh tại nhà. Cần tăng cường vận động các bà mẹ tới CSYT sinh con để nhận được các CSTY bảo đảm cuộc đẻ an toàn và trẻ sinh ra khỏe mạnh.

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Thực trạng thu chi tài chính và một số thuận lợi khó khăn của bệnh viện y học cổ truyền tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2016 - 2018

Mục tiêu: Nghiên cứu tìm hiểu thực trạng hoạt động thu chi tài chính và một số thuận lợi khó khăn tại bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2016-2018. Phương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu mô tả có kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng (hồi cứu số liệu thứ cấp từ các báo cáo tài chính của bệnh viện) và phương pháp nghiên cứu định tính (phỏng vấn sâu ban giám đốc và trưởng các phòng chức năng). Kết quả: Tổng thu của bệnh viện có xu hướng tăng (tăng 1.335,5 triệu đồng, 4.318,1 triệu đồng trong hai năm 2017, 2018 so với năm 2016), trong đó thu sự nghiệp chiếm khoảng 70-80% tổng nguồn thu mỗi năm. Nguồn thu từ viện phí và BHYT chiếm tỷ trọng cao trong tổng thu sự nghiệp của bệnh viện, chiếm khoảng 97-99%. Tổng chi của bệnh viện có xu hướng giảm (giảm 5.119,1 triệu đồng và 1.689,6 triệu đồng trong năm 2017, 2018 so với năm 2016) và chi thường xuyên là nhóm chi chiếm tỷ trọng cao nhất, chiếm hơn 90%. Nhóm chi thanh toán cá nhân và chi chuyên môn nghiệp vụ là hai nhóm chi chính trong chi thường xuyên tại bệnh viện. Chênh lệch thu chi của bệnh viện lần lượt là 1.387,2 triệu đồng, 7.841,9 triệu đồng và 7.394,8 triệu đồng tương ứng cho các năm 2016-2018. Những yếu tố thuận lợi trong hoạt động thu chi tài chính của bệnh viện bao gồm quy định về tự chủ bệnh viện, hoàn thiện các quy định, quy chế chi tiêu tài chính tại bệnh viện, sự quản lý, lãnh đạo của bệnh viện. Bên cạnh đó, bệnh viện cũng gặp một số khó khăn như việc cân đối các nguồn thu chi của bệnh viện, thiếu các văn bản hướng dẫn chi tiết, đồng bộ trong quản lý tài chính bệnh viện, ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý nói chung và kế toán nói riêng còn chưa tốt và nhân lực còn thiếu về cả số lượng và chất lượng. Kết luận: Giai đoạn 2016 – 2018, tổng thu của bệnh viện có xu hướng tăng, tổng chi của bệnh viện có xu hướng giảm, dẫn đến chênh lệch thu chi của bệnh viện có xu hướng tăng qua các năm, tuy nhiên, tổng số tiền trích lập quỹ của bệnh viện có xu hướng giảm, đặc biệt trích quỹ khen thưởng, phúc lợi và quỹ tiền thưởng/tiền lương tăng thêm do phải dành tỷ trọng lớn để trích lập quỹ cải cách tiền lương...

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Đánh giá cảm nhận của khách hàng về chất lượng cung cấp dịch vụ phẫu thuật nội soi bằng robot tại bệnh viện Bình Dân năm 2019

Mục tiêu: Chất lượng dịch vụ là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của bệnh viện, góp phần xây dựng hình ảnh, thương hiệu của bệnh viện, nâng cao năng lực cạnh tranh, thu hút khách hàng. Nghiên cứu nhằm mô tả cảm nhận của khách hàng về chất lượng cung cấp dịch vụ phẫu thuật nội soi bằng Robot và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cung cấp dịch vụ tại Bệnh viện Bình Dân, năm 2019. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả kết hợp nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định tính, sử dụng mô hình SERVPERF với 5 thành tố cấu thành chất lượng dịch vụ. Kết quả : Kết quả đánh giá cảm nhận của khách hàng về chất lượng cung cấp dịch vụ phẫu thuật nội soi bằng Robot tại Bệnh viện Bình Dân theo thang đo SERVPERF đạt 4,24 ± 0,041 điểm. Điểm trung bình các khía cạnh sự đảm bảo, sự tin cậy, phương tiện hữu hình, sự đáp ứng, sự cảm thông có điểm trung bình lần lượt là 4,45; 4,36; 4,16; 4,12; 4,10 điểm. Không tìm thấy mối liên quan giữa các yếu tố về nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu và điểm trung bình cảm nhận trong nghiên cứu này. Kết luận: nghiên cứu khuyến nghị lãnh đạo bệnh viện thực hiện kế hoạch cải tiến chất lượng dựa vào các khía cạnh có kết quả điểm cảm nhận dưới mức điểm trung bình chung. Đồng thời đẩy mạnh công tác truyền thông y tế để khách hàng ngày càng có nhiều cơ hội tiếp cận và có nhiều sự lựa chọn về các loại hình dịch vụ tân tiến.