📚 Mục lục — Tập 5 Số 05 (2021): Tập 05, Số 05-2021
Xem Tất cả Các số ›
TẠP CHÍ JHDS 2021
Tạp chí Khoa học Nghiên cứu Sức khỏe và Phát triển
📅 Tập 5 Số 05 (2021): Tập 05, Số 05-2021
ISSN: 2588-1442 (điện tử) · 2588-1442 (in)
Nghiên cứu gốc (Original papers)
Sử dụng bảo hiểm y tế của bệnh nhân HIV/AIDS tại phòng khám ngoại trú tỉnh Lào Cai năm 2020

Mục tiêu: Bài viết nhằm mô tả thực trạng sử dụng bảo hiểm y tế (BHYT) của bệnh nhân HIV/AIDS và một số yếu tố liên quan tại Phòng khám ngoại trú (PKNT) Bệnh viện đa khoa tỉnh Lào Cai năm 2020. Phương pháp nghiên cứu: Bài viết sử dụng số liệu định lượng từ một nghiên cứu với thiết kế cắt ngang, định lượng kết hợp với định tính. Có 313 bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS tham gia nghiên cứu được chọn mẫu toàn bộ được điều trị tại phòng khám ngoại trú bệnh viện tỉnh Lào Cai từ tháng 01 đến tháng 9 năm 2020. Phân tích thống kê mô tả được áp dụng, sử dụng phần mềm SPSS 16.0. Kết quả: Tỉ lệ bệnh nhân sử dụng thẻ BHYT để khám chữa bệnh (KCB) liên quan đến HIV trong 12 tháng qua là cao, chiếm 91,37%; sử dụng thẻ BHYT trong tất cả các lần khám là 97,23%. Các yếu tố liên quan đến việc không sử dụng BHYT chủ yếu là nhóm bệnh nhân HIV/AIDS có thu nhập cá nhân ≥4 triệu đồng/ tháng, do sợ bị lộ tình trạng nhiễm HIV/AIDS, kì thị và phân biệt đối xử, thiếu thông tin về BHYT, BHYT trái tuyến, thời gian KCB BHYT còn lâu. Kết luận: Tỉ lệ sử dụng thẻ BHYT liên quan đến HIV là cao tuy nhiên còn thấp trong độ tuổi 35-50. Bệnh viện cần cải tiến quy trình KCB BHYT; xây dựng, triển khai kế hoạch truyền thông về BHYT; tuyên truyền chống sự kỳ thị, phân biệt đối xử của NVYT cũng như người dân với bệnh nhân HIV/AIDS, bảo mật thông tin trong quá trình KCB và sử dụng thẻ BHYT, chú trọng đến nhóm tuổi 35-50.

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Thực trạng sử dụng kháng sinh trên bệnh nhân hệ Ngoại Bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình năm 2020

Mục tiêu: Mô tả thực trạng sử dụng kháng sinh trên bệnh nhân hệ Ngoại tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình năm 2020 Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu định lượng hồ sơ bệnh án của bệnh nhân điều trị ở 2 khoa Ngoại tổng hợp và Chấn thương chỉnh hình – Bỏng của bệnh viện đa khoa Thái Bình. Thời gian nghiên cứu từ 01/2021-07/2021. Nghiên cứu sử dụng bảng thu thập số liệu thứ cấp với 350 hồ sơ bệnh án của 2 khoa nghiên cứu nhằm tìm hiểu thực trạng sử dụng kháng sinh. Kết quả: Nghiên cứu cho thấy không có người bệnh nào sử dụng theo phác đồ kháng sinh dự phòng. Nhóm kháng sinh sử dụng nhiều nhất Cephalosporin thế hệ 3 chiếm tỷ lệ 87,4%. Tiếp đến là nhóm 5-nitro-imidazol với tỷ lệ là 46,9%. Phối hợp 2 loại kháng sinh chiếm tỷ tương đương với sử dụng kháng sinh đơn độc, cao nhất là tại khoa Ngoại tổng hợp là 75 %. Sự thay đổi kháng sinh chủ yếu sau phẫu thuật với tỷ lệ là 27,4%. Chỉ có gần 1/3 người bệnh có chỉ định làm kháng sinh đồ với tỷ lệ là 32,4%. Kết luận: Từ kết quả nghiên cứu, một số khuyến nghị đưa ra gồm: thường xuyên cập nhật, xây dựng bổ sung phác đồ, hướng dẫn điều trị, chăm sóc phù hợp; giám sát việc sử dụng thuốc kháng sinh của các bác sỹ, cũng như việc thực hiện y lệnh của điều dưỡng, cải thiện, kiểm soát nhiễm khuẩn môi trường khoa phòng, xây dựng quy trình chăm sóc sau phẫu thuật.

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Động lực làm việc của điều dưỡng và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện Da Liễu thành phố Hồ Chí Minh năm 2021

Mục tiêu: Mô tả và phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của điều dưỡng tại Bệnh viện Da liễu Thành phố Hồ Chí Minh năm 2021. Phương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính. Số liệu định lượng thu thập qua phát vấn 98 điều dưỡng, sử dụng bộ công cụ có cấu trúc gồm 3 yếu tố, 10 tiểu mục. Số liệu định tính được thu thập thông qua 11 phỏng vấn sâu lãnh đạo bệnh viện, cán bộ quản lý các khoa/phòng, và điều dưỡng. Kết quả : Tỷ lệ điều dưỡng có động lực làm việc chung 90,8%. Tỷ lệ điều dưỡng có động lực với yếu tố hài lòng với công việc là 89,8%. Tỷ lệ điều dưỡng có động lực với yếu tố cam kết với tổ chức là 90,8%. Tỷ lệ điều dưỡng có động lực với yếu tố sự tận tâm là 95,9%. Điểm trung bình động lực của 10 tiểu mục đều trên 4 điểm. Một số yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của điều dưỡng tại bệnh viện là thu nhập và chế độ đãi ngộ, đào tạo và phát triển, môi trường và điều kiện làm việc, quản lý và điều hành, văn hóa tổ chức của đơn vị, sự động viên và khen thưởng. Kết luận: Tỷ lệ điều dưỡng có động lực làm việc chung tại thời điểm nghiên cứu là tương đối cao. Bệnh viện nên ap dụng thí điểm hình thức “chi trả dựa trên kết quả công việc”. Bảo đảm phương tiện làm việc, trang bị bảo hộ cá nhân cho nhân viên. Bố trí, sắp xếp, phân công công việc phù hợp, luân chuyển nhân sự định kỳ để điều dưỡng hiểu và nắm được các công tác chuyên môn của Khoa/Phòng.

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Kiến thức và thái độ của sinh viên hệ đại học chính quy trường Đại học Xây dựng về thuốc lá điện tử và một số yếu tố liên quan năm 2021

Mục tiêu: Mô tả kiến thức, thái độ và một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ của sinh viên hệ đại học chính quy trường Đại học Xây dựng về thuốc lá điện tử năm 2021. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện từ tháng 11/2020 đến tháng 5/2021 trên 554 sinh viên hệ Đại học chính quy. Số liệu được thu thập qua bộ câu hỏi tự điền và phân tích bằng phần mềm SPSS 18.0. Kết quả: Tỷ lệ sinh viên có kiến thức đạt và thái độ đúng về thuốc lá điện tử lần lượt là 35,2% và 36,5%. Việc tiếp nhận thông tin về phòng chống tác hại thuốc lá tại trường (OR=1,6; KTC 95%: 1,1 – 2,3; p<0,05) và thái độ chưa đúng (OR=2,8; KTC 95%: 2 – 4,2; p<0,001) của sinh viên về thuốc lá điện tử có liên quan đến kiến thức chưa đạt của sinh viên về thuốc lá điện tử. Kết luận: Kiến thức và thái độ của sinh viên về thuốc lá điện tử còn hạn chế. Nghiên cứu khuyến nghị việc tăng cường truyền thông về phòng chống tác hại thuốc lá trong nhà trường để sinh viên có nhận thức đúng đắn về sự nguy hại của thuốc lá điện tử.

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Kiến thức của sinh viên về phòng cháy chữa cháy và một số yếu tố liên quan tại trường Cao Đẳng Y Tế Kiên Giang năm 2019 – 2020

Mục tiêu: Nghiên cứu thực hiện nhằm mô tả kiến thức của sinh viên về phòng cháy chữa cháy (PCCC) và một số yếu tố liên quan tại Trường Cao Đẳng y tế Kiên Giang. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang phân tích trên cỡ mẫu gồm 384 sinh viên tại trường Cao đẳng Y tế Kiên Giang. Kết quả: Với những kiến thức về xử lý tình huống khi có cháy ở nhà cao tầng, trong siêu thị và kiến thức nhận biết đám cháy, tỷ lệ trả lời đúng là khá cao, tương ứng là 86,7%; 76,8% và 72,9%. Tuy nhiên, có tới 54,2% sinh viên trả lời sai đối với câu hỏi về nguyên nhân thường dẫn đến tử vong trong đám cháy. Nghiên cứu cho thấy sinh viên chủ động tìm hiểu kiến thức về an toàn PCCC và trả lời đúng số điện thoại khẩn cấp của lực lượng cứu hỏa. Đánh giá của sinh viên cho thấy nhà trường trang bị tốt về cơ sở vật chất an toàn PCCC. Việc chủ động trang bị kiến thức an toàn PCCC cho sinh viên chưa được nhà trường quan tâm và đầu tư đúng mức. Qua kết quả nghiên cứu cho thấy có mối liên quan giữa kiến thức an toàn PCCC và khu vực sinh sống của sinh viên. Sinh viên sống xa gia đình có kỹ năng và kiến thức an toàn PCCC tốt hơn sinh viên ở cùng gia đình. Kết luận: Nhà trường cần xây dựng bộ quy chế và hướng dẫn về an toàn PCCC cho sinh viên. Lồng ghép kiến thức an toàn PCCC vào các môn học như Giáo dục Quốc phòng, thể dục và các hoạt động đoàn thể. Duy trì và phát huy hơn nữa công tác PCCC tại trường.

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Kiến thức và thực hành sử dụng an toàn thuốc bảo vệ thực vật của người dân tại tỉnh Đồng Tháp năm 2020

Mục tiêu: Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) là nhu cầu tất yếu trong canh tác nông nghiệp. Nghiên cứu thực hiện nhằm mô tả thực trạng kiến thức và thực hành sử dụng an toàn thuốc BVTV của người dân tại tỉnh Đồng Tháp năm 2020. Phương pháp nghiên cứu : Nghiên cứu cắt ngang thực hiện trên 442 người pha phun thuốc BVTV tại tỉnh Đồng Tháp, từ tháng 3/2020 đến tháng 9/2020. Kết quả: Tỷ lệ người pha phun biết thuốc BVTV có thể gây hại cho con người, môi trường là 81,9%, 45,2%; thuốc BVTV nhiễm vào cơ thể qua 3 con đường chính lần lượt là 20,1%, 79,2%, 75,3%. Có đọc hướng dẫn sử dụng, kiểm tra bình phun thuốc, pha trộn thuốc đúng hướng dẫn, pha thuốc đúng nơi, sử dụng đúng liều lượng lần lượt là 93,7%, 86,4%, 6,6%, 84,4% và 97,7%. Tỷ lệ người dân xử lý thuốc BVTV thừa, vỏ bao bì, vệ sinh và cất giữ bình phun thuốc lần lượt là 78,5%, 15,4%, 90,5% và 89,4%. Tỷ lệ người dân có sử dụng một trong các dụng cụ bảo hộ lao dao động trong khoảng 12,7 - 33,0%. Kết luận: Người dân có kiến thức, thực hành về sử dụng an toàn thuốc BVTV khá tốt. Các hoạt động truyền thông cần được tăng cường nhằm cải thiện các tồn tại trong sử dụng thuốc BVTV của người dân như phối trộn thuốc BVTV, sử dụng bảo hộ lao động.

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Tuân thủ vệ sinh tay ngoại khoa của phẫu thuật viên chính tại Bệnh viện quận Thủ Đức thành phố Hồ Chí Minh năm 2020

Mục tiêu: Mô tả thực trạng tuân thủ quy trình vệ sinh tay ngoại khoa của phẫu thuật viên chính bệnh viện quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh năm 2020. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang, thiết kế nghiên cứu định lượng, thực hiện quan sát qua camera trích xuất vào cuối mỗi ngày, bộ công cụ đánh giá là bảng kiểm thiết kế trên google form với nội dung được xây dựng dựa vào Quyết định 3916/2017/QĐ-BYT của Bộ Y tế ngày 28/08/2017. Tiến hành quan sát 144 lượt vệ sinh tay ngoại khoa của 72 phẫu thuật viên chính. Kết quả: Tỷ lệ tuân thủ chung quy trình vệ sinh tay ngoại khoa theo Quyết định 3916/2017/QĐ-BYT là 38,2%. Tỷ lệ tuân thủ về nội dung của từng bước theo cơ hội quan sát VSTNK là 48,6%, trong đó bước 1 tuân thủ 89,6%, bước 2 tuân thủ 80,6%, bước 3 tuân thủ 68,1%, bước 4 tuân thủ 93,1% và thao tác “Chà ngón tay cái”, “chà đầu ngón tay” có tỷ lệ tuân thủ thấp nhất. Tuân thủ tiêu chuẩn thời gian của các cơ hội quan sát vệ sinh tay ngoại khoa, trong đó: Tuân thủ 4 tiêu chuẩn thời gian 47,2% trong đó tuân thủ tiêu chuẩn “VSTNK từ 3 phút trở lên” có tỷ lệ cao nhất 82,6%, tiêu chuẩn “Rửa tay lần 2 với thời gian từ 1 phút 30 giây trở lên” có tỷ lệ tuân thủ thấp nhất 59%. Kết luận: Tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay ngoại khoa bằng xà phòng khử khuẩn theo hướng dẫn ở Quyết định 3916/2017/QĐ-BYT của Bộ Y tế ngày 28/08/2017 của Bệnh viện quận Thủ Đức là 38,2%.

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Thực hành phòng chống dịch COVID-19 của nhân viên y tế bệnh viện Đa khoa Đống Đa năm 2020 và một số yếu tố liên quan

Mục tiêu: Nghiên cứu nhằm tìm hiểu về kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống dịch COVID-19 và các yếu tố liên quan với thực hành của nhân viên y tế làm việc tại bệnh viện Đa khoa Đống Đa năm 2020. Phương pháp nghiên cứu : Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện từ 04/2020 đến 07/2020 với 295 NVYT làm việc tại bệnh viện Bệnh viện Đa khoa Đống Đa. Kết quả: Phần lớn nhân viên y tế tham gia vào nghiên cứu có kiến thức tốt (94,9%), thái độ tích cực (96,6%) với việc phòng chống dịch, tuy nhiên tỷ lệ nhân viên y tế có thực hành tốt là chưa cao (62%). Nhân viên y tế có kiến thức tốt, làm việc tại khoa lâm sàng có xu hướng thực hành phòng chống dịch COVID-19 tốt hơn. Kết luận: Tỷ lệ nhân viên y tế có thực hành tốt về phòng chống dịch COVID-19 chưa cao (62%). Các yếu tố như khoa làm việc, kiến thức về phòng chống dịch COVID-19 liên quan trực tiếp tới việc thực hành của NVYT.

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Tính toán chi phí đầy đủ của gói tầm soát ung thư đường tiêu hóa tại bệnh viện đa khoa Phương Đông năm 2020

Mục tiêu: Nghiên cứu này nhằm tính toán chi phí đầy đủ của gói tầm soát ung thư đường tiêu hóa tại bệnh viện đa khoa Phương Đông năm 2020. Phương pháp nghiên cứu: Ước tính chi phí đầy đủ từ quan điểm của nhà cung cấp dịch vụ. Các chi phí được tính toán đến bao gồm chi phí khấu hao cơ sở vật chất; chi phí khấu hao trang thiết bị; chi phí nhân lực; chi phí thuốc, vật tư tiêu hao, hóa chất; chi phí duy tu, sửa chữa cơ sở hạ tầng; chi phí điện nước, vệ sinh môi trường, giặt là, xử lý chất thải và chi phí chi thường xuyên khác. Chi phí được chia thành chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp. Chi phí trực tiếp được được tính bằng cách tổng hợp chi phí nhân lực; chi phí thuốc, vật tư tiêu hao, hóa chất; chi phí khấu hao cơ sở hạ tầng và trang thiết bị trực tiếp; chi phí chi thường xuyên trực tiếp của các quy trình thực hiện gói khám. Chi phí gián tiếp bao gồm các chi phí từ các khoa/phòng gián tiếp không thể trực tiếp phân bổ chi phí cho các hoạt động bằng các tiêu thức phân bổ phù hợp cho các quy trình thực hiện gói khám. Kết quả :  Tổng chi phí của gói tầm soát ung thư đường tiêu hóa là 2.463.917 đồng. Chi phí trực tiếp là l.693.946 đồng (68,75%), trong đó lớn nhất là chi phí thuốc, vật tư tiêu hao(VTTH), hóa chất là 543.578 đ; chi phí khấu hao trang thiết bị (TTB) trực tiếp là 459.463 đ; chi phí nhân lực trực tiếp là 450.550 đ; chi phí khấu hao cơ sở hạ tầng(CSHT), công cụ dụng cụ(CCDC) là 154.350 đ; chi phí duy tu, sửa chữa, bảo dưỡng cơ sở hạ tầng là 38.076 đ; chi phí điện, nước, giặt là, xử lý chất thải, vệ sinh môi trường(VSMT) là 39.076 đ; chi phí chi thường xuyên là 8.622 đ. Chi phí gián tiếp là 769.971 đồng (31,25%), trong đó lớn nhất là chi phí lương, thưởng, phụ cấp bộ phận gián tiếp là 486.906 đ; chi phí khấu hao nhà, cửa, CSHT gián tiếp 102.014 đ; khấu hao CCDC 147.513 đ; chi thường xuyên là 33.536 đ. Kết luận: Kết quả tính toán chi phí đầy đủ của gói tầm soát ung thư đường tiêu hóa giúp cho lãnh đạo bệnh viện đưa ra các quyết định kinh doanh phù hợp, hiệu quả và kịp thời, nhằm xây dựng các chính sách ưu đãi, khuyến mại hợp lý cho việc kinh doanh gói khám, đồng thời có chiến lược kiểm soát tốt các chi phí phát sinh nhưng không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ nhằm tạo lợi thế cạnh tranh với các bệnh viện trong khu vực.

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Thực trạng an toàn phẫu thuật tại Bệnh viện Nhân Dân Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh năm 2021

Mục tiêu: Nghiên cứu này được thực hiện với mục tiêu mô tả thực trạng an toàn phẫu thuật tại Bệnh viện Nhân Dân Gia Định thành phố Hồ Chí Minh năm 2021. Phương pháp nghiên cứu: mô tả cắt ngang, định lượng. Thời gian từ tháng 2/2021 đến tháng 9/2021 tại Bệnh viện Nhân Dân Gia Định, Thành phố Hồ Chí Minh. Cỡ mẫu nghiên cứu là 135 ca phẫu thuật và ekip, tài liệu có liên quan. Nghiên cứu sử dụng bảng kiểm đánh giá mức độ an toàn, xếp loại theo Quyết định 7482/QĐ-BYT. Số liệu định lượng được nhập bằng SPSS 25.0, phân tích tỷ lệ, trung bình. Kết quả: bệnh viện đạt điểm mức độ an toàn là 89,5/111, đạt mức độ 4 – bảo đảm an toàn phẫu thuật. Tất cả 8/8 tiêu chí đánh giá đều đạt một phần, tiêu chí 5 có tỉ lệ ca phẫu thuật đạt là cao nhất 76,3% trong khi 3 tiêu chí số 2, 4 và 6 không có ca phẫu thuật nào đạt tiêu chí. 43/67 tiểu mục trong được đánh giá mức đạt, 21/67 tiểu mục trong bộ tiêu chị được đánh giá mức đạt một phần, 3/67 tiểu mục không đạt. Kết luận: Các khoa phòng liên quan cần mua sắm trang thiết bị và thực hiện các hoạt động đáp ứng yêu cầu của Quyết định 7482 nhằm cải thiện mức độ an toàn của bệnh viện.

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Sự thăng tiến của cựu người học thạc sĩ Y tế công cộng tại khu vực Tây Nam Bộ tốt nghiệp Trường Đại học Y tế công cộng giai đoạn 2010 – 2019

Mục tiêu: Mô tả vị trí việc làm và sự thăng tiến của cựu người học thạc sĩ Y tế công cộng (ThSYTCC) tại khu vực Tây Nam Bộ của trường Đại học Y tế công cộng giai đoạn 2010-2019 Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu cắt ngang, thu thập số liệu định lượng bằng bộ câu hỏi tự điền. Số liệu được thu thập năm 2020 bằng cách gửi phiếu online dưới dạng google forms tới toàn bộ 167 cựu người học ThSYTCC. Kết quả: Tỷ lệ tham gia nghiên cứu là 65,9%. Kết quả phát vấn thu được từ 110 cựu người học cho thấy sau khi tốt nghiệp chương trình đào tạo ThSYTCC có 16,4% cựu người học chuyển cơ quan công tác, 30,9% cựu người học thay đổi vị trí công tác. Trong đó, hiện nay 64,5% cựu người học công tác tại tuyến tỉnh và 43,6% làm công tác về y tế dự phòng. Kết luận: Kết quả của nghiên cứu cho thấy sau khi tốt nghiệp chương trình đào tạo, cơ quan công tác và lĩnh vực công tác của cựu người học ThSYTCC không có sự thay đổi nhiều. Do cơ quan điều động, được bổ nhiệm/cất nhắc và việc thực hiện triển khai mô hình CDC tuyến tỉnh/trung tâm y tế huyện 2 chức năng là những lý do ảnh hưởng đến sự thăng tiến của cựu người học ThSYTCC khu vực Tây Nam Bộ sau khi tốt nghiệp.

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân Hemophilia điều trị tại viện Huyết học – truyền máu trung ương năm 2020

Mục tiêu: Mô tả chất lượng cuộc sống (CLCS) của 185 bệnh nhân Hemophilia điều trị tại Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương trong năm 2020. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, định lượng, sử dụng bộ công cụ SF-36 mô tả 185 bệnh nhân Hemophilia nam giới từ 18 tuổi trở lên, nằm trong danh sách điều trị năm 2020 tại Trung tâm Hemophilia, Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương. Kết quả: Bệnh nhân Hemophilia có điểm trung bình CLCS tổng quát ở mức trung bình khá (51,6 điểm), trong đó, SKTC thấp hơn hẳn SKTT (38 điểm và 65,2 điểm). Bệnh nhân từ 45 tuổi trở lên tại Viện có điểm trung bình CLCS tổng quát thấp hơn những bệnh nhân nhóm còn lại. Nhóm bệnh nhân được chẩn đoán lần đầu từ 0 – 12 tháng tuổi có điểm trung bình CLCS cao hơn nhóm có tuổi chẩn đoán lần đầu trên 12 tháng tuổi. Ngược lại, điểm trung bình CLCS cao hơn khi bệnh nhân có trình độ học vấn cao hơn. Có sự khác biệt điểm CLCS giữa các nhóm nghề nghiệp của bệnh nhân. Bệnh nhân Hemophilia A có điểm chất lượng cuộc sống thấp hơn bệnh nhân Hemophilia B, bệnh nhân mức độ nặng có điểm chất lượng cuộc sống thấp hơn bệnh nhân mức độ trung bình và nhẹ. Kết luận: điểm CLCS tổng quát của bệnh nhân Hemophilia tại Viện Huyết học – Truyền máu TW ở mức độ trung bình, trong đó điểm SKTC thấp hơn hẳn điểm SKTT. Điểm CLCS của bệnh nhân có sự khác nhau giữa các nhóm tuổi, tuổi chẩn đoán lần đầu, nghề nghiệp, học vấn, thể bệnh và mức độ bệnh.

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Chi phí phẫu thuật nạo va bằng Coblator tại bệnh viện nhi đồng 1 năm 2020

Mục tiêu: Xác định chi phí đầy đủ của phẫu thuật nạo VA bằng Coblator tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 năm 2020. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp phương pháp định lượng và định tính thực hiện trên 192 bệnh nhân phẫu thuật nạo VA bằng Coblator tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 năm 2020, phỏng vấn 08 lãnh đạo bệnh viện và các khoa phòng. Kết quả nghiên cứu: Chi phí đầy đủ trung bình đối với phương pháp nạo VA là 5.237.630 đồng bao gồm chi phí trực tiếp 4.665.916 đồng (89%) và chi phí gián tiếp 571.714 đồng (11%). Trong nhóm chi phí trực tiếp, chi phí thuốc và vật tư tiêu hao có tỷ trọng cao nhất 74,58%; tiếp theo là chi phí dành cho nhân sự thực hiện kỹ thuật 18,51%. Đối với nhóm chi phí gián tiếp, chi phí dành cho nhân sự hỗ trợ và quản lý có tỷ trọng cao nhất 68,41%; tiếp theo là chi phí khấu hao, duy tu bảo dưỡng cơ sở hạ tầng và vật tư trang thiết bị 24,97%. Chi phí đầy đủ được xác định trong nghiên cứu cao hơn mức giá đang áp dụng. Kết quả định tính ghi nhận tỷ trọng các cấu phần chi phí, giá dịch vụ kỹ thuật nạo VA bằng Coblator tương đối phù hợp và có thể áp dụng được. Kết luận: Căn cứ theo kết quả nghiên cứu, chúng tôi đề xuất cập nhật giá viện phí từ 3.352.000 đồng (từ năm 2015) lên 6.044.723 đồng để bảo đảm nguồn thu, duy trì ổn định hoạt động bệnh viện.

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Thực trạng phòng chống sốt rét ở nhóm đi rừng, ngủ rẫy tại xã Ea Sô, Huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk năm 2021 và một số yếu tố liên quan

Mục tiêu:  Mô tả thực trạng thực hành phòng chống sốt rét của nhóm đi rừng, ngủ rẫy tại xã Ea Sô, huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk và một số yếu tố liên quan, năm 2021. Phương pháp nghiên cứu:  Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích trên 367 người đi rừng, ngủ rẫy tại xã Ea Sô, huyên Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk từ tháng 03/2021 đến tháng 5/2021. Kết quả: Các đối tượng nghiên cứu có thực trạng thực hành phòng chống sốt rét đạt yêu cầu chiếm 63,2%. Trong đó, tỷ lệ đối tượng nghiên cứu luôn luôn mang theo màn/ võng màn khi đi rừng chiếm 48,23%, Ngoài ra các đối tượng cũng có áp dụng các biện pháp dự phòng khác như mặc quần áo dài tay và kem xua muỗi lần lượt 96,73% và 49,32%. Các yếu tố về học vấn (OR=2,91, 95%CI: 1,57-5,39 ), điều kiện kinh tế (OR=0,41, 95%CI: 0,24-0,68 ), tiền sử mắc mắc sốt rét (OR=4,86, 95%CI:2,78 -8,49 ) và tần suất đi rừng, ngủ rẫy (OR=0,51, 95%CI: 0,32-0,79 ) có liên quan đến thực hành dự phòng sốt rét. Kết luận:  Thực trạng thực hành phòng chống sốt rét của nhóm đi rừng, ngủ rẫy tại xã Ea Sô, huyện Ea Sar, tỉnh Đăk Lăk đạt kết quả tương đối cao. Các yếu tố liên quan đến thực hành phòng chống sốt rét bao gồm: học vấn, điều kiện kinh tế, tiền sử mắc sốt rét và tần suất đi rừng ngủ rẫy.

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Chất lượng dịch vụ điều trị nội trú và một số yếu tố ảnh hưởng tại trung tâm chẩn đoán và điều trị ung bướu, bệnh viện Quân Y 175, thành phố Hồ Chí Minh năm 2021

Mục tiêu: Mô tả chất lượng dịch vụ điều trị nội trú tại Trung tâm Chẩn đoán và Điều trị Ung bướu, Bệnh viện Quân y 175 thành phố Hồ Chí Minh năm 2021 và phân tích một số yếu tố ảnh hưởng. Phương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu cắt ngang phân tích, kết hợp nghiên cứu định tính. Ngiên cứu được tiến hành trên 214 bệnh nhân đến khám chữa bệnh tại Trung tâm. Chất lượng dịch vụ điều trị nội trú tại trung tâm được đo lường bởi mô hình SERVPERF gồm 05 khía cạnh: hữu hình; tin cậy; đảm bảo, đáp ứng và cảm thông, sử dụng thang đo Likert với 5 mức độ. Kết quả: nghiên cứu chỉ ra điểm trung bình chung của cả thang đo SERVPERF là 4,36/5,0. . Nhân lực y tế và công tác đào tạo phát triển nhân lực; cơ sở vật chất và trang thiết bị; qui trình khám chữa bệnh, xây dựng thương hiệu, quảng bá; chế độ lương thưởng; công tác giám sát, kiểm tra cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ điều trị nội trú. Kết luận: Để tiếp tục duy trì và nâng cao chất lượng dịch vụ, trung tâm cần đẩy mạnh công tác quản lý nguồn nhân lực y tế, bổ sung và hoàn thiện cơ sở vật chất, trang thiết bị cũng như duy trì chế độ lương thưởng và công tác giám sát, kiểm tra như hiện nay.

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Tổng quan các biện pháp can thiệp giảm tác động của ô nhiễm không khí đối với sức khỏe

Mục tiêu: Bài báo được thực hiện nhằm mô tả các biện pháp can thiệp giúp giảm tác động của ô nhiễm không khí lên sức khỏe. Kết quả: Các biện pháp can thiệp hiện có bao gồm chính sách về kế hoạch hành động, chính sách kiểm soát khí thải từ nhiên liệu đốt, chính sách kiểm soát khí thải giao thông, biện pháp kiểm soát khí thải từ nhà máy và một số biện pháp liên quan đến các sự kiện đặc biệt. Kết luận: Nhiều quốc gia và khu vực đang nỗ lực giảm thiểu ô nhiễm không khí bằng nhiều biện pháp khác nhau. Việt Nam cũng cần có những kế hoạch hành động nhằm kiểm soát chất lượng không khí lâu dài và bền vững.