📚 Mục lục — Tập 2 Số 04 (2018): Tập 02, số 04-2018
Xem Tất cả Các số ›
TẠP CHÍ JHDS 2018
Tạp chí Khoa học Nghiên cứu Sức khỏe và Phát triển
📅 Tập 2 Số 04 (2018): Tập 02, số 04-2018
ISSN: 2588-1442 (điện tử) · 2588-1442 (in)
Nghiên cứu gốc (Original papers)
Mối liên quan giữa tiền mãn kinh – mãn kinh và chất lượng cuộc sống ở của phụ nữ từ 45 đến 60 tuổi tại Thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang năm 2018

Mục tiêu: Nghiên cứu này được thực hiện để đánh giá chất lượng cuộc sống (CLCS) và xác định mối liên quan giữa mức độ trầm trọng của rối loạn tiền mãn kinh – mãn kinh (TMK – MK) với CLCS của phụ nữ tuổi từ 45 đến 60 tại thành phố Mỹ Tho, Tiền Giang năm 2018. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang có phân tích. Kết quả: Đa số phụ nữ tham gia nghiên cứu (88,7%) có CLCS trung bình với điểm số theo thang đo WHOQOL BREF là 51,5 (10,8). Điểm CLCS trung bình trên các lĩnh vực thể chất, tâm lý, xã hội và môi trường lần lượt là 52,1 (14,6); 51,4 (13,7); 51,2 (12,3) và 50,2 (12,6). Có 28% phụ nữ có điểm số MRS trầm trọng (MRS≥16). Các yếu tố liên quan đến CLCS bao gồm: tình trạng kinh nguyệt, kinh tế gia đình và trình độ học vấn. Kết luận và kiến nghị: Kết quả nghiên cứu cho thấy có 88,7% phụ nữ tuổi từ từ 45 đến 60 tại Thành phố Mỹ Tho, Tiền Giang có CLCS trung bình, 4,6 % có CLCS thấp và 6,6 % có CLCS cao. Cần có sự quan tâm của lãnh đạo các cấp để đảm bảo an sinh và phúc lợi xã hội, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho các đối tượng ở độ tuổi từ 45 đến 60. Có kế hoạch định kỳ mời những chuyên gia tổ chức những buổi nói chuyện chuyên đề về kiến thức TMK – MK và những biện pháp cải thiện CLCS cho các chi em phụ nữ giai đoạn này.

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Stress của sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Tiền Giang năm 2018 và một số yếu tố liên quan

Mục tiêu: Nghiên cứu này được thực hiện để mô tả thực trạng stress và phân tích một số yếu tố liên quan đến tình trạng stress của sinh viên trường Cao đẳng Y tế Tiền Giang năm 2018. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, thu thập thông tin của 578 sinh viên cao đẳng (ngành Điều dưỡng và Dược sĩ) vào tháng 04/2018 qua phát phiếu tự điền. Kết quả:  Tổng số 275/578 sinh viên có nguy cơ stress, chiếm tỷ lệ 47,6%. Phần lớn sinh viên có nguy cơ stress ở mức độ nhẹ và vừa (33,5%), tuy nhiên tỷ lệ sinh viên có nguy cơ stress nặng và rất nặng cũng rất đáng quan tâm (13%; 6,1%). Sinh viên nữ có nguy cơ stress cao gấp 4,7 lần sinh viên nam. Tỷ lệ có nguy cơ stress cao nhất là ở nhóm sinh viên ngành Dược (71,6%). Tỷ lệ và mức độ stress của sinh viên tăng dần theo từng năm học. Tỷ lệ stress ở mức độ nặng chủ yếu tập trung ở sinh viên năm thứ ba (45,8%). Các yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê làm tăng nguy cơ stress của sinh viên gồm: năm học (năm thứ hai; năm thứ ba), tình trạng lo lắng về nghề nghiệp tương lai, kết quả học tập từ trung bình khá trở xuống, không hài lòng về mối quan hệ với bố mẹ, thầy cô, lo lắng khoảng cách lớn giữa lý thuyết và thực hành (p<0,05). Kết luận và khuyến nghị: Sinh viên y dược có nguy cơ stress khá cao. Sinh viên cần xây dựng kế hoạch học tập và sinh hoạt hợp lý, tăng cường sự hỗ trợ kịp thời của gia đình. Nhà trường cần tăng cường hoạt động giảng dạy lâm sàng và liên kết với các cơ quan, doanh nghiệp trong và ngoài nước giới thiệu nhiều cơ hội việc làm cho sinh viên.

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Nhận thức về thiệt hại của cá nhân khi đội mũ bảo hiểm không đúng tiêu chuẩn và một số yếu tố liên quan của sinh viên 3 trường đại học tại phường Đức Thắng, Bắc Từ Liêm, Hà Nội, 2018

Đặt vấn đề: Việt Nam là quốc gia có tỷ lệ tử vong do tai nạn giao thông hàng đầu thế giới. Sinh viên là đối tượng có các hành vi nguy cơ khi tham gia giao thông như lái xe quá tốc độ, vượt đèn đỏ, không đội mũ bảo hiểm,... Nghiên cứu được tiến hành nhằm mô tả nhận thức về thiệt hại của bản thân khi đội mũ bảo hiểm không đúng tiêu chuẩn và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức này của sinh viên 3 trường đại học thuộc quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành từ tháng 5/2018 đến tháng 12/2018. Có 327 sinh viên đại diện cho 3 trường Đại học được chọn vào nghiên cứu theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên thuận tiện và phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi định lượng. Kết quả: Hầu hết sinh viên đều có nhận thức đúng về thiệt hại của bản thân khi đội MBH không đúng tiêu chuẩn, các yếu tố động lực từ cá nhân, bạn bè, cha mẹ đều có mối liên quan tới việc có nhận thức này ở các đối tượng nghiên cứu. Kết luận: Từ kết quả thu được, nghiên cứu nhấn mạnh tới tầm quan trọng của bạn bè và gia đình, đặc biệt là cha mẹ trong việc khuyến khích sinh viên có nhận thức đúng về việc đội mũ bảo hiểm đúng tiêu chuẩn, từ đó hạn chế các hậu quả mang lại do tai nạn giao thông.

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Điều kiện an toàn thực phẩm và kiến thức - thực hành của người sản xuất tại các cơ sở sản xuất bún ở Phường 9, thành phố Mỹ Tho, Tiền Giang, 2018

Mục tiêu: Mô tả điều kiện an toàn thực phẩm (ATTP) của các cơ sở sản xuất (CSSX) bún và đánh giá kiến thức - thực hành về ATTP của người sản xuất bún tại CSSX bún ở Phường 9, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang năm 2018. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính thực hiện tại 26 CSSX bún ở Phường 9, thành phố Mỹ Tho tỉnh Tiền Giang, từ 12/2017 đến 8/2018. Kết quả: Tỷ lệ CSSX bún đạt điều kiện về ATTP chung theo quy định chiếm tỷ lệ 76,9% (20/26 CSSX bún); trong đó đạt điều kiện cơ sở vật chất chiếm tỷ lệ 76,9%, điều kiện trang thiết bị, dụng cụ chiếm tỷ lệ 80,8%, điều kiện con người chiếm tỷ lệ 92,3%. Tỷ lệ người sản xuất đạt tiêu chuẩn kiến thức chung đúng về ATTP chiếm tỷ lệ 75,3%. Tỷ lệ người sản xuất đạt thực hành chung đúng về ATTP chiếm tỷ lệ 3,7%. Kết luận: Đa số cơ sở đều đạt điều kiện ATTP về cơ sở vật chất, trang thiết bị dụng cụ và tất cả các giấy tờ có liên quan đến ATTP. Tuy nhiên, tỷ lệ đạt về thực hành ATTP chưa cao do môi trường làm việc nóng bức và ẩm ướt nên việc chấp hành bảo hộ lao động chưa được người sản xuất thực hiện.

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Thực trạng tham gia bảo hiểm y tế và một số yếu tố liên quan của người dân tộc thiểu số tại xã Đăk Xú, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum năm 2018

Mục tiêu: Nghiên cứu nhằm mô tả thực trạng và xác định một số yếu tố liên quan đến việc tham gia bảo hiểm y tế (BHYT) của người dân tộc thiểu số (DTTS) tại xã Đăk Xú năm 2018. Phương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu cắt ngang có phân tích, định lượng kết hợp định tính. Chọn mẫu ngẫu nhiên nhiều giai đoạn với 243 người DTTS tham gia nghiên cứu. Kết quả: Tỷ lệ người DTTS có BHYT là 32,1%, trong đó chủ yếu là tham gia BHYT theo hộ gia đình (82,1%). Lý do chủ yếu không tham gia BHYT là do không có tiền mua (95,2%). Tỷ lệ người dân có dự định tham gia BHYT là 90,5%. Các yếu tố liên quan đến việc không tham gia BHYT của người dân tộc thiểu số là thu nhập thấp (dưới 1 triệu), trình độ học vấn thấp và nghề nghiệp làm nông. Kết luận: Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ có thẻ BHYT của người DTTS vẫn còn thấp. Cần tăng cường công tác truyền thông đến người dân cũng như có những hỗ trợ cho các hộ gia đình khó khăn để tăng tỷ lệ có thẻ BHYT của người dân.

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Động lực làm việc của bác sĩ và một số yếu tố ảnh hưởng tại Bệnh viện Quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh năm 2018

Mục tiêu: Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục tiêu mô tả động lực làm việc và phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của bác sĩ tại Bệnh viện quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh năm 2018. Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính. Nghiên cứu định lượng được thực hiện qua phát vấn trên 121 bác sĩ. Nghiên cứu định tính được thu thập qua 4 cuộc phỏng vấn sâu và 2 cuộc thảo luận nhóm với đại diện lãnh đạo, đại diện các khoa/phòng. Kết quả : điểm trung bình động lực làm việc của bác sĩ tại Bệnh viện quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tương đối thấp là 3,79/5 điểm, tỷ lệ bác sĩ có động lực là 62,8%. Yếu tố sự tận tâm có điểm trung bình cao nhất, đạt 4,03 điểm (tỉ lệ 76%) và thấp nhất là yếu tố cam kết với tổ chức đạt 3,65 điểm (43%). Một số yếu tố có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với động lực làm việc chung là yếu tố người thu nhập chính, yếu tố thu nhập (p <0,05). Một số yếu tố tác động tích cực tới động lực làm việc của bác sĩ là lãnh đạo lắng nghe nhân viên, môi trường làm việc, mối quan hệ với đồng nghiệp. Những yếu tố hạn chế động lực làm việc của bác sĩ là hệ thống chi trả, cơ hội thăng tiến, điều kiện làm việc. Vì vậy, cần thực hiện các giải pháp cải thiện điều kiện làm việc, chi trả, tạo cơ hội thăng tiến để giúp cải thiện động lực làm việc của bác sĩ.

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Hài lòng với công việc và một số yếu tố ảnh hưởng của nhân viên khối hành chính Bệnh viện đa khoa khu vực tỉnh An Giang năm 2018

Mục tiêu: Mô tả sự hài lòng với công việc và phân tích một số yếu tố ảnh hưởng của nhân viên khối hành chính tại Bệnh viện đa khoa (BVĐK) khu vực tỉnh An Giang năm 2018. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu sử dụng thiết kê mô tả cắt ngang kết hợp định lượng và định tính trên 240 nhân viên y tế khối hành chính tại BVĐK khu vực tỉnh An Giang từ tháng 03/2018 đến tháng 8/2018. Kết quả: Tỷ lệ hài lòng với công việc ở mức 63,8% và điểm trung bình hài lòng chung đạt 3,94. Các yếu tố cá nhân ảnh hưởng đến sự hài lòng bao gồm loại hình lao động (p=0,034, χ 2 =4,51, OR=2,41), số lần trực (p=0,019, χ 2 =9,95). Năng lực của trưởng nhóm, sự quan tâm chỉ đạo, định hướng chiến lược, hệ thống đánh giá thực hiện công việc và văn hóa bệnh viện là những yếu tố thuộc về nhóm và tổ chức có ảnh hưởng đến sự hài lòng của cán bộ khối hành chính. Kết luận: Tỷ lệ hài lòng không cao với công việc của nhân viên khối hành chính cho thấy bệnh viện cần có sự điều chỉnh trong lịch trực và luân chuyển cán bộ, tăng cường năng lực quản lý cho cán bộ quản lý, hoàn thiện và triển khai hệ thống đánh giá thực hiện công việc.

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Thực trạng và một số thuận lợi khó khăn trong ứng dụng công nghệ thông tin quản lý bệnh viện tại bệnh viện đa khoa Sa Đéc năm 2018

Mục tiêu: Ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) đóng vai trò quan trọng trong quản lý bệnh viện (BV). Nghiên cứu nhằm mô tả thực trạng ứng dụng CNTT trong quản lý BV theo quyết định 5573/QĐ-BYT ngày 26/12/2006 và phân tích một số yếu tố thuận lợi, khó khăn khi ứng dụng CNTT trong quản lý BV tại BV đa khoa Sa Đéc, Đồng Tháp năm 2018. Phương pháp nghiên cứu: Thiết kế mô tả cắt ngang kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính được tiến hành qua phát vấn 117 nhân viên y tế (NVYT), 10 cuộc phỏng vấn sâu, 2 cuộc thảo luân nhóm từ tháng 2 đến tháng 6/2018 tại BV đa khoa Sa Đéc. Kết quả : Cơ sở hạ tầng trang thiết bị phần cứng của BV đã tương đối đủ đáp ứng nhu cầu khi triển khai ứng dụng CNTT với tỉ lệ máy tính/người là 34,5%, tuy nhiên hệ thống mạng dù bao phủ 100% nhưng hoạt động còn chậm. Về phần mềm, BV đã triển khai đầy đủ 8 phân hệ theo Quyết định 5573/QĐ-BYT, trong đó có 5 phân hệ đạt 100% các tiêu chí, 3 phân hệ đạt khoảng 80% số tiêu chí. Nhân lực CNTT còn thiếu, chỉ chiếm 0,53%/tổng số NVYT. Có 92% NVYT có thao tác trên máy tính nhưng chỉ có 53,4% có chứng chỉ tin học. Yếu tố thuận lợi là được sự quan tâm của Ban lãnh đạo BV và sự đồng thuận cao trong toàn thể NVYT BV. Yếu tố khó khăn là cơ sở hạ tầng trang thiết bị còn thiếu và một số máy móc đã qua thời gian sử dụng lâu năm nhưng chưa có kinh phí thay mới. Kinh phí đầu tư cho CNTT hàng năm vẫn còn thấp và chưa đồng đều, chiếm dao động từ 0,09% đến 0,44% tổng ngân sách đơn vị. Chưa tổ chức tập huấn đào tạo thường xuyên cho NVYT. Kết luận: BV cần đầu tư trang thiết bị cơ sở hạ tầng máy móc để đảm bảo hệ thống mạng hoạt động ổn định và xuyên suốt, cần bổ sung các tiêu chí còn chưa hoàn chỉnh của phần mềm, bổ sung nguồn nhân lực cho Tổ CNTT.

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan về dự phòng phơi nhiễm viêm gan vi rút B, C nghề nghiệp của điều dưỡng các khoa lâm sàng, Bệnh viện đa khoa thành phố Cần Thơ năm 2018

Mục tiêu : 1) Mô tả kiến thức, thực hành về dự phòng phơi nhiễm viêm gan vi rút (VGVR) B, C nghề nghiệp và 2) xác định một số các yếu tố liên quan đến thực hành về dự phòng phơi nhiễm VGVR B, C nghề nghiệp của điều dưỡng các khoa lâm sàng, Bệnh viện Đa khoa thành phố Cần Thơ năm 2018. Phương pháp nghiên cứu : thiết kế nghiên cứu cắt ngang phân tích. Nghiên cứu tiến hành phỏng vấn và quan sát thực hành của 136 điều dưỡng hiện đang công tác các khoa lâm sàng thuộc Bệnh viện Đa khoa thành phố Cần Thơ. Kết quả: 70,6% điều dưỡng có kiến thức đạt về bệnh và nguy cơ mắc bệnh VGVR B, C nghề nghiệp; 59,6% có kiến thức đạt về dự phòng phơi nhiễm VGVR B, C nghề nghiệp; 54,4% có thực hành đạt về dự phòng phơi nhiễm VGVR B, C nghề nghiệp. Các yếu tố có liên quan đến thực hành dự phòng phơi nhiễm chưa đúng là điều dưỡng có thâm niên công tác dưới 5 năm, có kiến thức không đạt về bệnh và nguy cơ mắc bệnh VGVR B, C nghề nghiệp, có kiến thức không đạt về dự phòng phơi nhiễm. Kết luận, khuyến nghị: Kiến thức của điều dưỡng về bệnh và dự phòng phơi nhiễm VGVR B, C nghề nghiệp chưa cao; thực hành dự phòng phơi nhiễm với VGVR B, C nghề nghiệp còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu về quy tắc phòng ngừa chuẩn. Điều dưỡng cần nâng cao hiểu biết về bệnh và các biện pháp dự phòng bệnh VGVR B, C nghề nghiệp; thực hiện tốt các biện pháp dự phòng để phòng ngừa phơi nhiễm với máu, dịch của bệnh nhân.

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Đánh giá mức độ khử khuẩn ống nội soi tiêu hóa mềm và một số yếu tố ảnh hưởng tuân thủ quy trình khử khuẩn tiệt khuẩn của nhân viên y tế tại một bệnh viện đa khoa

Mục tiêu:  Đánh giá kết quả khử khuẩn, tiệt khuẩn ống nội soi tiêu hóa mềm và các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ quy trình khử khuẩn, tiệt khuẩn (KKTK) của nhân viên y tế (NVYT) tại một bệnh viện đa khoa. Phương pháp:  Nghiên cứu cắt ngang. Quan sát 60 cơ hội thực hành KKTK của NVYT và định lượng vi sinh trên 60 mẫu dịch lấy từ ống nội soi mềm sau khi được KKTK để đánh giá mức độ khử khuẩn, thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu đối với NVYT tại bệnh viện đa khoa để đánh giá các yếu tố ảnh hưởng. Kết quả:  13,3% ống nội soi mềm có kết quả khử khuẩn không đạt; có mối liên quan giữa tuân thủ thực hành KKTK của NVYT và kết quả ống nội soi mềm khử khuẩn không đạt yêu cầu: ống nội soi ở nhóm thực hành KKTK có sai sót kết quả xét nghiệm vi sinh không đạt cao gấp 9,8 lần so với nhóm thực hành không có sai sót (OR = 9,8; p<0,05). Như vậy thực hành tuân thủ KKTK có vai trò quan trọng trong đảm bảo an toàn ống nội soi tiêu hoá. Các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ qui trình KKTK của NVYT bao gồm: thâm niên làm công tác nội soi, trình độ học vấn, thời gian để thực hiện quy trinh, sự đầy đủ và sẵn có của các phương tiện, điều kiện cần thiết cho quy trình xử lý, việc kiểm tra, giám sát, khen thưởng và công tác đào tạo, tập huấn. Kết luận:  Nghiên cứu đã đưa ra bằng chứng ban đầu về vai trò quan trọng của tuân thủ thực hành của NVYT với mức độ khử khuẩn ống nội soi tiêu hóa mềm và những yếu tố ảnh hưởng đến sự tuân thủ qui trình KKTK ống nội soi mềm tại bệnh viện.