Mục tiêu: Công tác xã hội (CTXH) trong bệnh viện lần đầu tiên được triển khai vào năm 1905 tại Boston, Mỹ. Đến nay hầu hết các bệnh viện ở Mỹ đều có phòng CTXH và đã trở thành một trong những điều kiện bắt buộc để các bệnh viện được công nhận là hội viên của Hội các bệnh viện. Nghiên cứu được nhóm tác giả thực hiện với mục tiêu nhằm tìm hiểu vai trò của đội ngũ nhân viên CTXH tại bệnh viện Nhi Trung ương hiện nay, trên cơ sở tìm hiểu nhu cầu có mặt nhân viên CTXH; đánh giá những việc đã làm được, những việc chưa làm được, những thuận lợi, khó khăn của hoạt động CTXH trong bệnh viện; tìm hiểu mức độ hài lòng với những kết quả thực hiện vai trò của nhân viên CTXH bệnh viện; trên cơ sở đó nhóm nghiên cứu đề xuất một số giải pháp chuyên nghiệp hóa đội ngũ nhân viên CTXH bệnh viện. Phương pháp: Nghiên cứu được triển khai sử dụng số liệu định lượng và định tính với 100 người nhà bệnh nhi điều trị tại bệnh viện Nhi Trung ương và 27 phỏng vấn sâu với nhân viên y tế, nhân viên CTXH được triển khai từ tháng 12/2014 đến tháng 6/2015. Kết quả nghiên cứu: vai trò nhân viên CTXH chuyên nghiệp trong bệnh viện hiện nay (Nghiên cứu tại bệnh viện Nhi Trung ương) cho thấy sự có mặt của đội ngũ nhân viên CTXH chuyên nghiệp trong bệnh viện vô cùng quan trọng tuy rằng vẫn còn tồn tại một số khó khăn bất cập nhất định.
Mục tiêu: Nghiên cứu nhằm mô tả nhu cầu về dịch vụ công tác xã hội của bệnh nhân nội trú tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức năm 2018. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng. Nghiên cứu phát vấn với 420 bệnh nhân nội trú. Nghiên cứu thu thập số liệu tại 5 khoa: Chấn thương chỉnh hình I, Ung bướu, Phẫu thuật thần kinh I, Phẫu thuật gan mật và Phẫu thuật tiết niệu trong thời gian tháng 4-5/2018. Kết quả: Kết quả nghiên cứu cho thấy, người bệnh có nhu cầu khác nhau về dịch vụ công tác xã hội, trong đó: 81,9% người bệnh có nhu cầu cung cấp dịch vụ chỉ dẫn thông tin khám chữa bệnh, 68,6% người bệnh có nhu cầu cung cấp thông tin giáo dục sức khỏe, 62,9% người bệnh có nhu cầu hỗ trợ tâm lý, 55,5% người bệnh có nhu cầu kết nối nguồn lực và hỗ trợ từ thiện. Kết luận: Một số khuyến nghị đã được đưa ra về nguồn nhân lực, cơ sở vật chất, truyền thông, và việc giám sát triển khai dịch vụ công tác xã hội tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức.
Mục tiêu: Nghiên cứu nhằm mô tả thực trạng triển khai hoạt động công tác xã hội (CTXH) tại Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu, tỉnh Bến Tre, giai đoạn 2016 – 2019. Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu được thực hiện thông qua việc sử dụng tài liệu thứ cấp: các văn bản, báo cáo, sổ sách, quy định liên quan đến triển khai hoạt động CTXH tại Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu từ tháng 4/2016 đến tháng 3/2019. Kết quả: Bệnh viện đã triển khai cả 07 hoạt động theo Thông tư 43 của Bộ Y tế. Tuy nhiên, kết quả ghi nhận có 03 hoạt động rất thiết thực và được sự ủng hộ rất nhiều từ các đối tượng có liên quan gồm: hoạt động tư vấn giải quyết các vấn đề về CTXH cho người bệnh/người nhà người bệnh (NB/NNNB) trong quá trình khám chữa bệnh; hoạt động vận động, tiếp nhận tài trợ; hoạt động tổ chức các hoạt động từ thiện, CTXH của bệnh viện tại cộng đồng. Hoạt động thông tin, truyền thông phổ biến giáo dục pháp luật và hoạt động đào tạo, bồi dưỡng là 02 hoạt động mặc dù bệnh viện có triển khai nhưng kết quả còn rất nhiều hạn chế. Kết luận: Nghiên cứu cho thấy cần bổ sung thêm nhân lực có trình độ chuyên môn cần thiết như tâm lý học, báo chí và CTXH. Ngoài ra, cần tạo điều kiện thuận lợi nhất để nhân viên y tế được cập nhật kiến thức về CTXH, về y học, tổ chức tập huấn và triển khai Thông tư 43 đến toàn thể tổ chức, cá nhân có liên quan.
Mục tiêu: Mô tả thực trạng hoạt động Công tác xã hội (CTXH) tại một số bệnh viện tuyến Trung ương trên địa bàn thành phố Hà Nội. Phương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính. Đối tượng nghiên cứu: bệnh nhân, người nhà bệnh nhân, nhân CTXH, nhân viên y tế và cán bộ quản lý cấp khoa/phòng. Nghiên cứu từ tháng 02-12/2018 tại 3 bệnh viện: bệnh viện Bạch Mai, bệnh viện Nhi Trung ương và bệnh viện K Tân Triều. Kết quả nghiên cứu: Trong các hoạt động CTXH đã và đang được triển khai tại các bệnh viện thuộc địa bàn khảo sát, các hoạt động hỗ trợ người bệnh đến khám bệnh và làm thủ tục nhập viện, xuất viện mang tính giản đơn, được thực hiện thường xuyên và được người bệnh đánh giá cao. Các hoạt động kết nối, vận động tài trợ và hỗ trợ người bệnh các nhu cầu thiết yếu trong quá trình điều trị cũng được thực hiện thường xuyên, liên tục và có hiệu quả. Các hoạt động mang tính đặc thù của CTXH, đòi hỏi tính chuyên môn cao như: tham vấn, tư vấn, trị liệu tâm lý, can thiệp khủng hoảng chưa được quan tâm thực hiện và còn thiếu chuyên nghiệp, hiệu quả chưa cao. Kết luận và khuyến nghị: CTXH tại các bệnh viện tuyến TW trên địa bàn Hà Nội vẫn đang trong giai đoạn đầu của quá trình hình thành và phát triển. Bộ Y tế cần có các văn bản hướng dẫn phòng CTXH các bệnh viện thực hiện các giải pháp nâng cao tính chuyên nghiệp và hiệu quả các hoạt động CTXH. Các cơ sở đào tạo nguồn nhân lực CTXH trong bệnh viện cần đổi mới nội dung chương trình đào tạo và tăng cường hướng dẫn kỹ năng thực hành nghề nghiệp cho sinh viên.
Mục tiêu: Tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động công tác xã hội (CTXH) tại Trung tâm Y tế huyện Đăk Tô năm 2019. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu định tính, thu thập số liệu qua phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm trọng tâm. Kết quả: Hiện đã có văn bản pháp quy định hướng phát triển nghề CTXH, nhưng chưa có hướng dẫn cụ thể triển khai thực hiện, thiếu văn bản hướng dẫn bố trí biên chế và chuẩn năng lực cho nhân viên CTXH trong bệnh viện. Ở các bệnh viện quy mô nhỏ, nhân lực hạn chế khiến các dịch vụ CTXH không được cung cấp liên tục. Thiếu các văn bản hướng dẫn triển khai hoạt động cụ thể và chưa có chương trình, tài liệu đào tạo cho các đối tượng trong bệnh viện về CTXH nên việc đào tạo thực hiện nghiệp vụ cho nhân viên CTXH và trang bị các kiến thức cơ bản về CTXH cho nhân viên y tế rất hạn chế, các dịch vụ CTXH trong bệnh viện chưa được cung cấp hiệu quả. Khuyến nghị: Bộ Y tế sớm ban hành hướng dẫn về định mức biên chế và cơ cấu các chức danh chuyên môn CTXH trong các bệnh viện. Xây dựng chuẩn năng lực người làm CTXH tại các cơ sở y tế và chương trình, tài liệu đào tạo nghiệp vụ CTXH cho các đối tượng khác nhau trong bệnh viện. Đối với Trung tâm Y tế tuyến huyện cần phân công chuyên trách CTXH, tổ chức đào tạo nghiệp vụ CTXH cho người làm CTXHđể phối hợp thực hiện các hoạt động.
Mục tiêu: Nghiên cứu này nhằm mô tả các khó khăn mà lao động nhập cư (LĐNC) trong việc tiếp cận các dịch vụ y tế; và phân tích vai trò của nhân viên công tác xã hội (CTXH) trong việc hỗ trợ lao động nhập cư tiếp cận dịch vụ y tế tại làng Eahdil, tỉnh Đắk-Lắk. Phương pháp nghiên cứu: Thông qua phỏng vấn bán cấu trúc 30 LĐNC, thảo luận nhóm hai phiên cùng các đại diện LĐNC đến từ Núi phía Bắc, Đồng bằng Sông Hồng, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long. Nghiên cứu thực hiện tại làng Eahdil, tỉnh Đắk-Lắk từ tháng 1-4 năm 2015. Kết quả: Nghiên cứu đã mô tả bốn nhóm yếu tố: Kinh tế-xã hội, điều kiện chính trị-xã hội, văn hóa-xã hội và môi trường-khí hậu khắc nghiệt là rào cản khiến LĐNC gặp khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ y tế. Ngoài ra, nghiên cứu đã phân tích vai trò nhân viên CTXH trong việc hỗ trợ LĐNC thông qua các hoạt động sau: vai trò truyền thông-nâng cao nhận thức, tham vấn tâm lý, và kết nối nguồn lực. Kết luận: Hiểu được các yếu tố cản trở LĐNC tiếp cận dịch vụ y tế và sự cần thiết của nhân viên CTXH trong lỉnh vực sức khỏe y tế trong cộng đồng. Khuyến nghị cơ quan quản lý nhà nước cần tạo điều kiện thuận lợi cho LĐNC đăng ký tạm trú, các chương trình, chính sách việc làm, để họ để dàng tiếp cận các dịch vụ y tế tại địa phương cho LĐNC. Tại xã (phường) cần thiết có nhân viên CTXH chuyên nghiệp để hỗ trợ trực tiếp nhóm LĐNC.
Mục tiêu: Nghiên cứu nhằm tìm hiểu hình ảnh và vai trò nhân viên công tác xã hội (CTXH) được truyền tải trên phương tiện truyền thông đại chúng, cụ thể nghiên cứu trường hợp đối với các bài viết thuộc chủ đề nghề CTXH đăng tải trên Tạp chí Lao động - Xã hội. Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp phân tích nội dung định tính được áp dụng phân tích với 49 bài viết thu thập được trong thời gian từ từ tháng 1/2018 đến tháng 11/2019. Kết quả: Kết quả nghiên cứu cho thấy bước đầu tạp chí và các bài viết đã chú trọng truyền tải thông tin về hình ảnh và mô tả vai trò của nhân viên CTXH trong bệnh viện đến với công chúng thông qua thông điệp bằng hình ảnh và bằng mô tả, bước đầu giúp giới thiệu và định hình về một vị trí nghề nghiệp mới giúp công chúng nắm bắt thông tin. Tuy nhiên một số thông tin, và ảnh sử dụng minh họa còn chưa chính xác về chân dung và vai trò của nhân viên CTXH trong bệnh viện, đặc biệt còn sự nhầm lẫn với vai trò và hình ảnh của y bác sỹ, nhân viên y tế. Do vậy dễ dẫn đến sự hiểu nhầm, thiếu tin tưởng đối với vị trí nghề nghiệp mới còn đang trong quá trình khẳng định và tìm chỗ đứng. Kết luận: Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần tư vấn nhằm hướng đến chính xác hoá các thông tin, thông điệp, từ đó truyền thông đầy đủ, chính xác, chân thực và hiệu quả về hình ảnh và vai trò của nhân viên CTXH trong môi trường bệnh viện.
Mục tiêu nghiên cứu: Quá trình phục hồi của người bệnh đòi hỏi một quá trình chăm sóc toàn diện từ nhiều nguồn lực liên quan. Việt Nam đang phải đối mặt với những gánh nặng gây ra do bệnh tật như ung thư, đái tháo đường, tai biến mạch máu não, tim mạch... Tai nạn giao thông và chấn thương cũng là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở người trưởng thành, gây ảnh hưởng tiêu cực liên quan đến gánh nặng về kinh tế, xã hội và chất lượng sống. Khi trải qua bệnh tật, người bệnh thường trải nghiệm cảm giác mất kết nối với các nguồn lực hỗ trợ. Bài viết nhằm khám phá các yếu tố tinh thần hỗ trợ quá trình phục hồi của người bệnh tại Bệnh viện Phục hồi chức năng tỉnh Lâm Đồng. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, trong đó sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính thông qua 10 câu chuyện từ kinh nghiệm sống – phục hồi của người bệnh tại Bệnh viện Phục hồi chức năng tỉnh Lâm Đồng, từ tháng 3 đến tháng 10 năm 2019. Kết quả: Những yếu tố tinh thần chính được phát hiện trong nghiên cứu này bao gồm: sự kiên trì và tinh thần trách nhiệm; sự hy vọng, yếu tố tâm linh và sự nâng đỡ cảm xúc cho người bệnh. Kết luận: Yếu tố tinh thần đóng vai trò quan trọng trong việc giúp người bệnh tìm ra ý nghĩa của cuộc sống. Khi đánh giá các yếu tố tinh thần trong thực hành công tác xã hội, nhân viên công tác xã hội cần có năng lực cũng như sự nhạy cảm về văn hóa, đảm bảo đầy đủ việc thực hiện các nguyên tắc đạo đức và tiêu chuẩn nghề nghiệp cũng như chú trọng đến yếu tố cá nhân hóa để có thể cung cấp các dịch vụ phù hợp.
Mục tiêu: Mô tả thực trạng kiến thức, thái độ, hành vi của nhân viên y tế về nghề công tác xã hội tại Bệnh viện Nhi Trung ương năm 2019. Phương pháp nghiên cứu: Thiết kế mô tả cắt ngang với 90 nhân viên y tế làm việc tại các khoa lâm sàng thuộc 3 nhóm bệnh: cấp tính, mãn tính và nhóm hồi sức tại Bệnh viện Nhi Trung ương (18/879 La Thành, Đống Đa, Hà Nội) năm 2019. Kết quả: Kết quả nghiên cứu cho thấy nhân viên y tế tại bệnh viện Nhi Trung ương có kiến thức về nghề công tác xã hội ở mức trung bình (48,9%). Phần lớn nhân viên y tế có thái độ tích cực về nghề công tác xã hội (80%) đồng thời có hành vi trong việc tương tác phù hợp (75,6%) với nhân viên công tác xã hội. Kết luận: Việc nâng cao kiến thức của nhân viên y tế về nghề công tác xã hội trong bệnh viện là hết sức cần thiết. Đây là một trong những yếu tố quan trọng góp phần nâng cao chất chượng cũng như vai trò của các hoạt động công tác xã hội trong bệnh viện.
Mục tiêu: Mô tả thực trạng thực hiện quyền an sinh xã hội về khám chữa bệnh của người dân thông qua hoạt động công tác xã hội (CTXH). Phương pháp nghiên cứu: Thiết kế cắt ngang mô tả. Nghiên cứu được thực hiện tại 7 tỉnh Hà Nội, Quảng Ninh, Hoà Bình, Đà Nẵng, Bến Tre, Đắk Lắk và thành phố Hồ Chí Minh, từ tháng 6/2018 đến tháng 5 năm 2019. Kết quả: Kết quả nghiên cứu cho thấy về quyền được hỗ trợ điều dưỡng, chăm sóc sức khỏe hoạt động công tác xã hội nổi bật nhất là tuyên truyền chính sách và biện hộ chính sách là hoạt động được sử dụng với tỷ lệ thấp nhất. Về quyền được hỗ trợ tiêm chủng ngừa bệnh, hoạt động được chú trọng nhiều nhất cũng là tuyên truyền chính sách và thấp nhất là hoạt động hỗ trợ chuẩn bị hồ sơ chính sách. Về quyền được hỗ trợ chi phí điều trị, khám chữa bệnh, hoạt động chủ đạo là tuyên truyền và tư vấn chính sách, hoạt động ít được thực hiện nhất là kết nối nguồn lực hỗ trợ. Về quyền được cấp thẻ bảo hiểm y tế (BHYT) miễn phí, hoạt động được thực hiện với tỷ lệ cao nhất vẫn là hoạt động tuyên truyền chính sách và thấp nhất là kết nối nguồn lực hỗ trợ. Kết luận: Từ các can thiệp và sự trợ giúp của CTXH, người dân có thể tiếp cận và thực hiện quyền khám chữa bệnh của mình. Nhà nước cần có rà soát và bổ sung các văn bản luật, chính sách, chương trình, dịch vụ về y tế để mọi người dân được tiếp cận và thụ hưởng dịch vụ. Trong thời gian tới cần đẩy mạnh hơn nữa sự tham gia của CTXH trong việc thúc đẩy thực hiện quyền an sinh xã hội (ASXH) của người dân trong cộng đồng nói chung và trong các cơ sở y tế nói riêng.
Mục tiêu: Mô tả tầm quan trọng của công tác xã hội trong bệnh viện, hoạt động thực hành của nhân viên công tác xã hội trong việc hỗ trợ cho hệ thống bệnh viện tại Úc. Phương pháp nghiên cứu: Tổng quan tài liệu từ các nghiên cứu của Hiệp hội công tác xã hội Úc về hoạt động công tác xã hội trong bệnh viện (AASW) với 13 tài liệu được tác giả trích dẫn Kết quả nghiên cứu: Tại Úc, công tác xã hội trong bệnh viện có vai trò bảo vệ quyền được chăm sóc sức khỏe của người bệnh thông qua việc tư vấn các vấn đề xã hội có liên quan cho người bệnh và gia đình của họ trong quá trình điều trị; tìm kiếm các dịch vụ hỗ trợ trên cơ sở tìm hiểu và phân tích các yếu tố xã hội có ảnh hưởng đến sức khỏe của người bệnh; kết nối các dịch vụ hỗ trợ cho từng người bệnh; nghiên cứu cung cấp bằng chứng từ thực tế hoạt động để đề xuất chính sách; hỗ trợ giải tỏa tâm lý cho người bệnh, người nhà và nhân viên y tế… Kết luận: Tại Úc, nhân viên CTXH bệnh viện cung cấp dịch vụ trực tiếp nhằm giảm thiểu tác động của bệnh tật trong quá trình nhập viện. Theo đó, nghề công tác xã hội được coi như một dịch vụ thiết yếu và liên tục trong chuỗi dịch vụ mà hệ thống bệnh viện cung cấp.