📚 Mục lục — Tập 5 Số 01 (2021): Tập 05, Số 01-2021
Xem Tất cả Các số ›
TẠP CHÍ JHDS 2021
Tạp chí Khoa học Nghiên cứu Sức khỏe và Phát triển
📅 Tập 5 Số 01 (2021): Tập 05, Số 01-2021
ISSN: 2588-1442 (điện tử) · 2588-1442 (in)
Nghiên cứu gốc (Original papers)
Chất lượng cuộc sóng của người nhiễm HIV đang điều trị ARV tại phòng khám ngoại trú thuộc Trung tâm Y tế Nha Trang năm 2020 và một số yếu tố liên quan

Mục tiêu: Nghiên cứu “Chất lượng cuộc sống của người nhiễm HIV đang điều trị ARV tại phòng khám ngoại trú thuộc Trung tâm y tế Nha Trang năm 2020 và một số yếu tố liên quan” nhằm mục tiêu đánh giá chất lượng cuộc sống và xác định một số yếu tố liên quan của nhiễm HIV đang điều trị ARV tại phòng khám ngoại trú thuộc Trung tâm y tế Nha Trang. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu sử dụng thiết kế nghiên cứu cắt ngang trên 209 người nhiễm HIV đang điều trị ARV. Nghiên cứu sử dụng công cụ đo lường CLCS WHOQOL-HIV BREF phản ánh 6 khía cạnh: thể chất, tâm lý, mức độ độc lập, mức độ quan hệ xã hội, môi trường, tinh thần. Kết quả: Nghiên cứu cho thấy điểm trung bình chất lượng cuộc sống là l2,88 (ĐLC=3,23) trong đó khía cạnh thể chất cao nhất 14,53 điểm (ĐLC=3,34), điểm trung bình chất lượng cuộc sống khía cạnh xã hội thấp nhất 10.36 điểm (ĐLC =2,76). Người nhiễm HIV có chất lượng cuộc sống ở mức trung bình. Một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của người nhiễm HIV như người nhiễm HIV có xét nghiệm tải lượng virus >1000 bản sao/ml có chất lượng cuộc sống ở tất cả khía cạnh thấp hơn người nhiễm HIV có tải lượng virus dưới ngưỡng phát hiện, p<0,05 có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. Người nhiễm HIV bị kỳ thị cũng có điểm số chất lượng cuộc sống thấp hơn so với người không bị kỳ thị. Yếu tố miễn dịch và kì thị có liên quan đến chất lượng cuộc sống của người nhiễm HIV. Kết luận và khuyến nghị: Người nhiễm HIV cần tuân thủ điều trị, định kì kiểm tra tình trạng miễn dịch theo y lệnh của nhân viên điều trị, có lối sống lành mạnh để góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho chính bản thân họ.

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Một số chỉ số sức khỏe, hành vi nguy cơ và sử dụng dịch vụ y tế ở trẻ vị thành niên dân tộc Chăm tại An Giang năm 2019

Mục tiêu: Nhằm nâng cao chất lượng phục vụ chăm sóc sức khỏe vị thành niên (VTN) người Chăm trong thời gian tới, nghiên cứu mô tả một số chỉ số sức khỏe, hành vi nguy cơ (HVNC) và sử dụng dịch vụ y tế (DVYT) từ đó phân tích yếu tố ảnh hưởng tới sử dụng DVYT, nghiên cứu này là một phần của đề tài cấp nhà nước “Những giải pháp cơ bản và cấp bách về chăm sóc sức khỏe đồng bào dân tộc thiểu số nước ta hiện nay”. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu cắt ngang có phân tích, kết hợp định lượng và định tính. Tác giả đã sử dụng ssố liệu thu thập từ 96 trẻ VTN dân tộc Chăm tại An Giang từ đề tài gốc và thực hiện phân tích số liệu ở nhóm VTN nam/nữ, thời gian từ 4/2018 đến 10/2020. Kết quả: Tỷ lệ có bệnh trong vòng 03 tháng trước điều tra 87,5%; mắc bệnh trong vòng 12 tháng (bệnh mạn tính) trước điều tra 1,04%; HVNC do chấn thương là 2,08%; Tỷ lệ VTN bị ốm có sử dụng DVYT trong lần gần nhất là 13%; không điều trị gì là 20,3%. Kết luận và khuyến nghị: Với gia đình và nhà trường cần động viên và chia sẻ kịp thời khi VTN có biểu hiện buồn chán, tránh ảnh hưởng đến việc học tập, Cha mẹ và trẻ VTN nên đến cơ sở y tế để khám chữa bệnh khi bị ốm không nên tự điều trị.

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế Bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam – Cu Ba năm 2020

Mục tiêu: Mô tả thực trạng và phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam – Cu Ba năm 2020. Phương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu cắt ngang, kết hợp định lượng và định tính tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam – Cu Ba, từ tháng 2 đến 11 năm 2020. Kết quả: Tỷ lệ đáp ứng tích cực chung với văn hóa an toàn người bệnh (VHATNB) là 73,9 %. Khía cạnh “Làm việc theo ekip trong khoa” có tỷ lệ đáp ứng tích cực cao nhất (94,2%) và thấp nhất là “Không trừng phạt khi có sự cố” (50,1%). Nhóm có thu nhập trung bình thấp đánh giá mức độ an toàn người bệnh cao hơn nhóm có thu nhập cao (p=0,001), đáp ứng tích cực với VHATNB của nhân viên khối Nội tốt hơn khối Ngoại và Cận lâm sàng (p<0,05). Sự quan tâm của lãnh đạo, hệ thống quy trình/quy định, đào tạo/tập huấn về an toàn người bệnh giúp thúc đẩy VHATNB. Hệ thống báo cáo sự cố y khoa hoạt động chưa hiệu quả, lưu trữ và tiếp cận hệ thống quy trình/quy định an toàn người bệnh còn nhiều hạn chế, thiếu chế tài khen thưởng – xử phạt và thiếu nhân lực giám sát an toàn người bệnh ảnh hưởng không tốt đến VHATNB. Kết luận và khuyến nghị: Tích cực truyền thông về quản lý sự cố y khoa, đặc biệt cho đối tượng bác sỹ và xây dựng chế tài với hoạt động an toàn người bệnh; Tăng khả năng tiếp cận, áp dụng đối với hệ thống quy trình/quy định tại bệnh viện; Rà soát, chuẩn hóa quy trình bàn giao và chuyển người bệnh; Tăng cường nhân lực cho hoạt động giám sát an toàn người bệnh.

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Thực trạng tuân thủ vệ sinh tay thường quy của nhân viên y tế trung tâm y tế Cư Jút, Đắk Nông và một số yếu tố ảnh hưởng năm 2020

Mục tiêu: Vệ sinh tay là một trong các biện pháp bảo đảm an toàn cho nhân viên y tế và hạn chế tối đa các tác nhân nhiễm khuẩn bệnh viện. Nghiên cứu nhằm xác định tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay thường quy và phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ vệ sinh tay thường quy của nhân viên y tế tại Trung tâm Y tế huyện Cư Jút năm 2020. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cứu cắt ngang, nghiên cứu kết hợp phương pháp định lượng và định tính thông qua việc quan sát bằng bảng kiểm 92 nhân viên y tế thực hiện quy trình trên 368 cơ hội vệ sinh tay và thu thập thông tin qua phỏng vấn 92 nhân viên y tế, thực hiện 04 cuộc phỏng vấn sâu và 02 cuộc thảo luận nhóm, thời gian thu thập từ tháng 3 đến hết tháng 6/2020. Nghiên cứu Sử dụng phần mềm Epidata 3.1 để nhập liệu và quản lý số liệu; phần mềm Stata 14.0 phân tích số liệu. Kết quả: Tỷ lệ nhân viên y tế tuân thủ vệ sinh tay thường quy là 14,13%; Kiến thức và thái độ của nhân viên y tế có mối liên quan đến tuân thủ vệ sinh tay thường quy với p< 0,05. Công tác kiểm tra giám sát, quy chế thi đua, khen thưởng; công tác tập huấn đào tạo và tính dễ tiếp cận của các phương tiện phục vụ của dung dịch vệ sinh tay liên quan tới thực hành vệ sinh tay của nhân viên y tế. Kết luận và khuyến nghị: Tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay của nhân viên y tế tương đối thấp, có sự liên quan tới kiến thức và thái độ.

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Hành vi chế độ ăn lành mạnh và một số yếu tố liên quan trong nhóm vị thành niên tại Việt Nam năm 2019

Mục tiêu: Nghiên cứu nhằm mô tả thực trạng hành vi chế độ ăn không lành mạnh và phân tích một số yếu tố liên quan với các hành vi này trong nhóm VTN tại thành phố Hà Nội năm 2019. Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng thiết kế nghiên cứu mô tả phân tích, tổng số 1770 VTN từ 16 đến 18 tuổi đang theo học tại 15 trường Trung học phổ thông tại 5 quận/huyện, thành phố Hà Nội được lựa chọn vào nghiên cứu trong thời gian từ tháng 7/2019 đến tháng 05/2020. Kết quả: Cho thấy hành vi chế độ ăn lành mạnh ở VTN cho thấy 1/2 VTN có chế độ dinh dưỡng hợp lý và lành mạnh trong đó thấp nhất phải kể đến là tỷ lệ VTN uống sữa ≥4 lần/ tuần chỉ đạt khoảng 1/4 và cũng chỉ 45% VTN có ăn sáng hàng ngày. Yếu tố giới tính và hút thuốc là các yếu tố có liên quan đến hành vi chế độ ăn lành mạnh trong nhóm VTN, cụ thể nữ VTN có nguy cơ thấp hơn so với nam VTN trong việc sử dụng đồ uống có ga thường xuyên (OR=0,46, CI 95%: 0,39-0,54). Việc hút thuốc cũng làm tăng nguy cơ sử dụng đồ uống có ga thường xuyên (OR=1,64, CI 95%: 1,33-2,02). Kết luận và khuyến nghị: Để giúp cho VTN có chế độ ăn lành mạnh cần tăng cường hoạt động truyền thông, tư vấn cho học sinh thực hiện chế độ ăn hợp lý như ăn sáng hàng ngày, chế dộ ăn tăng cường rau xanh, giảm mặn và chất béo.

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Vai trò của người chồng và mối liên quan với sàng lọc ung thư cổ tử cung của người vợ tại huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp năm 2020

Mục tiêu: Mô tả thực hành tầm soát ung thư cổ tử cung của phụ nữ từ 30 - 50 tuổi có chồng và mối liên quan giữa sự hỗ trợ của người chồng với tầm soát của người vợ. Phương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu cắt ngang với 255 cặp vợ chồng đang sinh sống tại huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp từ tháng 03 đến tháng 07 năm 2020. Kết quả: Tỷ lệ phụ nữ đã thực hiện tầm soát ung thư cổ tử cung là 24,2%. Phụ nữ có chồng không thường xuyên giúp vợ làm việc nhà, chi tiền bạc cho vợ đi khám và khuyến khích vợ đi tầm soát có tỉ lệ không đi tầm soát lần lượt cao hơn 1,37, 1,31 và 1,35 lần (p<0,05) so với phụ nữ có chồng hỗ trợ thường xuyên. Kết luận và khuyến nghị: Thực hành về tầm soát ung thư cổ tử cung còn thấp. Sự hỗ trợ của người chồng có liên quan đến tầm soát ung thư cổ tử cung của người vợ. Vai trò người chồng cần tiếp tục nghiên cứu nhằm cung cấp thông tin cho chương trình tầm soát ung thư cổ tử cung được triển khai hiệu quả hơn.

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Thực trạng nhiễm HIV/AIDS và một số yếu tố liên quan ở nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại cộng đồng tỉnh Tiền Giang năm 2020

Mục tiêu: Nghiên cứu thực hiện nhằm mô tả thực trạng nhiễm HIV/AIDS và một số yếu tố liên quan đến tỷ lệ nhiễm HIV trên nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp nghiên cứu định lượng dựa trên bảng hỏi thiết kế sẳn và kết quả xét nghiệm (XN) HIV nhanh trực tiếp tại cộng đồng, trên 170 nam quan hệ tình dục đồng giới (MSM) tại Tiền Giang. Kết quả : Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV ở MSM là 20,6%. Một số yếu tố liên quan đến tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS là trình độ học vấn từ Trung học phổ thông (THPT) trở lên có khả năng nhiễm cao hơn 3,6 lần so với các đối tượng có trình độ Trung học cơ sở (THCS) trở xuống (OR= 3,64; CI=1,42-9,35) và nhận thức nguy cơ bản thân không nhiễm HIV của các đối tượng có khả năng nhiễm HIV cao hơn 6,49 lần so với các đối tượng nhận thức bản thân có khả năng nhiễm HIV (OR=6,49; CI=2,90-14,53). Kết luận và khuyến nghị: Cần đẩy mạnh truyền thông can thiệp trên nhóm MSM.

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện quy trình lâm sàng chẩn đoán và điều trị đái tháo đường type 2 tại trung tâm Y Tế huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương năm 2019

Mục tiêu: Nghiên cứu tiến hành với mục tiêu xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện quy trình lâm sàng chẩn đoán và điều trị đái tháo đường type 2 tại Trung tâm Y tế huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương năm 2019. Phương pháp nghiên cứu: Bằng phương pháp nghiên cứu định tính bao gồm 4 cuộc phỏng vấn sâu và 2 cuộc thảo luận nhóm với cán bộ y tế có liên quan trực tiếp đến quy trình quản lý, điều trị người bệnh đái tháo đường type 2. Kết quả : Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện quy trình gồm: công tác tổ chức cán bộ chuyên môn cho phòng khám chưa đúng và đủ theo biên chế; công tác đào tạo chuyên môn cho cán bộ nhân viên chưa được quan tâm toàn diện; quy chế khen thưởng xử phạt, công tác kiểm tra giám sát vẫn chưa đạt được hiệu quả tối ưu; áp lực từ khối lượng công việc, đặc điểm người bệnh, chế độ đãi ngộ và sự phối hợp chuyên môn giữa các khoa/phòng cũng có ảnh hưởng đến việc thực hiện quy trình lâm sàng chẩn đoán và điều trị. Kết luận và khuyến nghị: Lãnh đạo trung tâm cần quan tâm hơn, bổ sung nhân lực, giảm áp lực công việc cho cán bộ nhân viên và chuẩn hóa và ban hành các quy trình chuyên môn theo quy định của Bộ Y tế. Đối với cán bộ nhân viên phòng khám cần nghiêm túc chấp hành các nội quy, quy chế liên quan

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Ứng dụng Lean Six Sigma cho quy trình khám chữa bệnh ngoại trú có BHYT tại một số bệnh viện thành phố Hồ Chí Minh

Mục tiêu: Đánh giá thời gian quy trình và sự hài lòng người bệnh với dịch vụ khám chữa bệnh ngoại trú có BHYT và Đánh giá hiệu quả của việc cải tiến bằng mô hình LSS vào một số bước trong quy trình khảo sát. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu ứng dụng Lean Six Sigma tiến hành qua 5 bước: Xác định-Đo lường-Phân tích-Cải thiện-Kiểm soát từ tháng 3/2017-6/2017 tại quy trình khám chữa bệnh ngoại trú có BHYT tại một số Bệnh viện TP HCM. Số liệu khảo sát trên 166 người bệnh ngoại trú có thẻ BHYT qua phỏng vấn trực tiếp giai đoạn trước, sau cải tiến và thực hiện phỏng vấn sâu nhóm chuyên gia (10 nhân viên y tế). Kết quả: Xác định và đề xuất giải pháp cho 32 nguyên nhân gây ra các hoạt động không hiệu quả trong 2 quy trình khảo sát. Mục tiêu cải thiện thời gian của hai quy trình khảo sát và sự hài lòng người bệnh là 20%. Sau cải tiến, thời gian quy trình đăng ký thủ tục khám chữa bệnh mong đợi (<40 phút) cải thiện 13,8%, thời gian quy trình cấp phát thuốc mong đợi (<20 phút) cải thiện 22,9% và mức độ hài lòng của người bệnh cải thiện 11,5%. Kết luận và khuyến nghị : Mô hình Lean Six Sigma được đánh giá là tìm ra các nguyên nhân gốc rễ cho các hoạt động không đem lại hiệu quả trong chuỗi quy trình hoạt động.

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Thực trạng kiến thức của nhân viên phục hồi chức năng cộng đồng tại huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình năm 2020

Mục tiêu: Mô tả thực trạng kiến thức về thực hiện nhiệm vụ của nhân viên phục hồi chức năng cộng đồng tại huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình năm 2020. Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng thiết kế cắt ngang chọn mẫu toàn bộ 114 nhân viên phục hồi chức năng cộng đồng tại huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình. Kết quả: Nhân viên phục hồi chức năng cộng đồng có tuổi trung bình là 51,25, chủ yếu là nữ 87,7% và đã được đào tạo về y tế trình độ sơ cấp; Có 56,2% nhân viên phục hồi chức năng cộng đồng có kiến thức đạt về thực hiện các nhiệm vụ của nhân viên phục hồi chức năng cộng đồng, trong đó tỷ lệ kiến thức đạt theo từng nhiệm vụ bao gồm: Phát hiện và báo cáo tình trạng người khuyết tật (NKT), đánh giá nhu cầu phục hồi chức năng; Triển khai thực hiện phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng cho người khuyết tật; Quản lý theo dõi người khuyết tật chiếm tỷ lệ lần lượt là: 64,9%; 59,6%; 81,5%. Kết luận và khuyến nghị: Tỷ lệ có kiến thức đạt vể thực hiện nhiệm vụ của nhân viên phục hồi chức năng cộng đồng chưa cao 52,6%; trong đó kiến thức về quản lý theo dõi người khuyết tật có tỷ lệ đạt cao nhất 85,1%, thấp nhất là kiến thức triển khai thực hiện phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng cho người khuyết tật chiếm 59,6%.

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Đánh giá hiệu quả phẫu thuật cắt AMIĐAN tại khoa Tai Mũi Họng Bệnh viện Nhi Đồng 1

Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả các phương pháp cắt amiđan tại Khoa Tai Mũi Họng Bệnh viện Nhi Đồng 1. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu quan sát mô tả tiến cứu được thực hiện trên 312  bệnh nhi phẫu thuật cắt amiđan tại khoa Tai Mũi Họng Bệnh viện Nhi Đồng 1 từ tháng 4 đến tháng 7 năm 2019. Kết quả: Đối với phương pháp dao điện: thời gian phẫu thuật trung bình 8,67 phút; lượng máu mất trung bình 10,32ml; tỷ lệ chảy máu sau phẫu thuật 5,04%; điểm đau trung bình ở ngày thứ 21  là 2,17; tỷ lệ lành thương hoàn toàn ở ngày thứ 7 là 0%,  ngày thứ 14 là 58,22% và ngày thứ 21 là 96,2%. Đối với phương pháp Coblator: thời gian phẫu thuật trung bình 7,92 phút; lượng máu mất trung bình 5,27ml; tỷ lệ chảy máu sau phẫu thuật 1,53%; điểm đau trung bình ở ngày thứ 21 là 1,98; tỷ lệ lành thương hoàn toàn ở ngày thứ 7 là 18,55%, ngày thứ 14 là 98,45% và ngày thứ 21 là 100%. Đối với phương pháp Plasma: thời gian phẫu thuật trung bình là 9,83 phút; lượng máu mất trung bình là 7,15ml; tỷ lệ chảy máu sau phẫu thuật 2,56%; điểm đau trung bình ở ngày thứ 21 là 1,82; tỷ lệ lành thương hoàn toàn ở ngày  thứ 7 là 16,21%,  ngày 14 là 97,44%  và ngày thứ 21 là 100%. Kết luận và khuyến nghị : Không có sự khác biệt đáng kể về thời gian phẫu thuật, lượng máu mất trong phẫu thuật. Tuy nhiên có sự khác biệt về mức độ đau và tỷ lệ biến chứng chảy máu sau phẫu thuật và sự lành thương giữa các phương pháp.Việc lựa chọn phương pháp phẫu thuật tuỳ thuộc vào kinh  nghiệm của phẫu thuật viên và điều kiện kinh tế của bệnh nhân.Phẫu thuật viên cần lưu ý về thời điểm chảy máu sau phẫu thuật để hướng dẫn thân nhân bệnh nhi theo dõi và chăm sóc phù hợp.

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Thực trạng tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch cho trẻ dưới 1 tuổi và một số yếu tố ảnh hưởng tại phường Tân Lợi, thành phố Buôn Ma Thuột, năm 2020

Mục tiêu: Nghiên cứu thực hiện nhằm mục tiêu: Mô tả thực trạng tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch và Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch ở trẻ dưới 1 tuổi tại phường Tân Lợi, thành phố Buôn Ma Thuột, năm 2020. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp định lượng và định tính Kết quả: Kết quả cho thấy thực trạng tiêm chủng đầy đủ đạt 95%, tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch chỉ đạt 43,1%, cao nhất là vắc xin phòng bệnh lao 96,3%; thấp nhất là lịch tiêm vắc xin 5 trong 1 cho trẻ vào lúc 4 tháng tuổi 43,1%. Nghiên cứu tìm thấy mối liên quan giữa nghề nghiệp, trình độ học vấn, dân tộc với tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch trẻ dưới 1 tuổi (OR = 1.5-5, p<0,05). Kết luận và khuyến nghị: Yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ TCĐĐ và đúng lịch trong địa bàn nghiên cứu là chưa nhận được sự quan tâm, phối hợp của các ban ngành địa phương trong chương trình tiêm chủng, ảnh hưởng của truyền thông khiến bà mẹ trì hoãn hoặc không dám cho con đi tiêm chủng.

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Đặc điểm tin giả về dịch bệnh COVID- 19: kết quả phân tích nội dung tin giả phản ánh trên báo tuổi trẻ năm 2020

Mục tiêu: Nghiên cứu nhằm phân tích nội dung tin giả về dịch COVID-19 trong bối cảnh làn sóng dịch đầu tiên xuất hiện tại Việt Nam từ tháng 1/2020 đến tháng 5/2020. Phương pháp nghiên cứu: Với phương pháp phân tích nội dung truyền thông kết hợp định lượng và định tính, nghiên cứu đã phân tích nội dung các tin giả trên mạng xã hội (đã bị cơ quan chức năng xử lý) về dịch COVID-19, thông qua các bài viết đưa tin về việc xử lý tin giả trên về dịch bệnh COVID-19 được thông tin trên báo Tuổi trẻ từ tháng 1/2020 đến tháng 5/2020 với tổng số bài viết lựa chọn phân tích là 68 bài. Kết quả nghiên cứu :  Phân tích cho thấy người tham gia đăng tải/chia sẻ tin giả về COVID-19 trên mạng xã hội xuất hiện trên toàn quốc, trong đó có đến 26,5% số tin giả đã bị xử lý tại Hà Nội. Hình thức thể hiện của tin giả rất đa dạng, nhưng tập trung và phổ biến nhất là tin sai sự thật về việc xuất hiện ca bệnh dương tính (chiếm hơn 51%), chủ thể đăng tải tin giả là nữ cao gấp khoảng 2,5 lần so với chủ thể là nam (63,2% so với 26,5%). Kết luận và khuyến nghị: Kết quả phân tích bổ sung hiểu biết về tin giả trong y tế nói chung và trường hợp dịch bệnh COVID-19 nói riêng, có thêm căn cứ đưa ra giải pháp chủ động kiểm soát tin giả như một nội dung cần có trong các chiến lược, chương trình truyền thông trong bối cảnh y tế khẩn cấp nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát bệnh tật trong cộng đồng.

Nghiên cứu gốc (Original papers)
Kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống đuối nước của học sinh trường trung học cơ sở Nguyễn Văn Huyên, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội năm 2020

Mục tiêu: Mô tả kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống đuối nước của học sinh trường THCS Nguyễn Văn Huyên, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội năm 2020. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang, nghiên cứu định lượng. Nghiên cứu phát vấn 779 học sinh trường trung học cơ sở Nguyễn Văn Huyên, Hoài Đức, Hà Nội từ tháng 10/2019 đến tháng 5/2020. Kết quả: Trong số 779 trẻ, điểm kiến thức trung bình đạt 28,02 điểm (ĐLC: 9,57). Trong đó, trẻ có số điểm cao nhất đạt 44 điểm và thấp nhất là 3 điểm. Phân tích thêm cho thấy: có đến 65,08% học sinh chưa có kiến thức tốt về phòng chống đuối nước. Về sơ cấp cứu khi gặp người đuối nước, chỉ có 33,5% trẻ trả lời biết khi được hỏi. Về đánh giá thái độ của trẻ đối với phòng chống đuối nước, có tới 10,9% học sinh chưa có thái độ tốt. Điểm trung bình thái độ của trẻ về phòng chống đuối nước là 3,09 điểm (ĐLC: 0,68). Tỷ lệ trẻ chưa biết bơi là 41,9%. Về chuột rút khi bơi lội, có đến 25,4% trẻ đã từng bị và trong số này vẫn có 16,5% trẻ vùng vẫy, giãy giụa để giảm cơn đau và 4,4% trẻ không biết cách xử lí. Kết luận: Nhà trường nên tổ chức các chương trình sinh hoạt ngoại khoa cho học sinh về phòng chống đuối nước. Gia đình nên cho trẻ tham gia các lớp học bơi, hạn chế để trẻ tham gia các hoạt động liên quan đến nước một mình.