Mục tiêu: Nghiên cứu mô tả tỷ lệ tuân thủ điều trị thuốc chống đông kháng vitamin K và phân tích một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị thuốc ở người bệnh sau mổ thay van tim nhân tạo tại bệnh viện Việt Đức năm 2019. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, chọn mẫu toàn bộ; thông tin được thu thập tại phòng khám Tim mạch và lồng ngực – Bệnh viện Việt Đức Đức từ tháng 4/2019 đến tháng 6/2019. Tổng số 285 người bệnh sau mổ thay van nhân tạo và có thời gian dùng thuốc chống đông kháng vitamin K ngoại trú ≥ 1 tháng. Kết quả: Tỷ lệ tuân thủ điều trị chung là 58,2%. Trong đó tuân thủ dùng thuốc CĐKVK theo thang đo Morisky là 93,3%. Tuân thủ chế độ ăn là 68,8%. Tuân thủ hạn chế rượu/ bia là 85,3%. Yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị được tìm thấy bao gồm giới tính, tình trạng hôn nhân, thời gian thay van tim, rung nhĩ/ loạn nhịp, khoảng cách từ nhà đến viện (p < 0,05). Kết luận: Tỷ lệ tuân thủ điều trị bằng thuốc CĐKVK của người bệnh thấp. Tỷ lệ này có liên quan nhiều yếu tố như giới tính, tình trạng hôn nhân gia đình, thời gian phẫu thuật, khoảng cách từ nhà đến viện. Do đó cần tăng cường tư vấn giải thích hơn nữa cho những người bệnh nam, người bệnh còn độc thân, người bệnh thay van tim trên 1 năm.
Đặt vấn đề: Mối liên quan giữa tác động ngắn hạn của yếu tố ô nhiễm không khí lên bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ở người cao tuổi cũng là một vấn đề đáng lưu tâm. Tổng quan tài liệu này được tiến hành nhằm mô tả đặc điểm các nghiên cứu và tiến hành phân tích gộp nhằm đánh giá tác động của các yếu tố ô nhiễm không khí lên việc nhập viện do bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) ở người cao tuổi ở các quốc gia trên thế giới. Phương pháp nghiên cứu: Đây là một tổng quan hệ thống tìm kiếm các tài liệu với thiết kế nghiên cứu dịch tễ học quan sát các tác động của các yếu tố ô nhiễm không khí lên việc nhập viện do bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ở người cao tuổi. Phân tích gộp với mô hình tác động ngẫu nhiên được sử dụng để tính toán ước tính nguy cơ tương đối tổng hợp (RR) và khoảng tin cậy 95%. Kết quả: Tổng cộng có 24 tài liệu hợp lệ. Các chất gây ô nhiễm không khí thường gặp đều làm tăng khả năng nhập viện do bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ở người cao tuổi. Kết luận: Có đủ căn cứ chứng minh các tác động ngắn hạn của các chất gây ô nhiễm không khí lên việc nhập viện do bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ở người cao tuổi.
Mục tiêu: Nghiên cứu nhằm mô tả trải nghiệm thực tế cách li tập trung ngăn ngừa đại dịch Covid-19 của du học sinh trở về nước và bàn luận một số vấn đề liên quan đến thực hiện cách li tập trung tại Miền Bắc. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu định tính, cách tiếp cận trường hợp (case study). Số liệu thu thập bằng ghi chép và quan sát tham gia của một du học sinh trở về nước được cách li tập trung tại Miền Bắc, Việt Nam. Số liệu định tính được phân tích theo chủ đề. Kết quả được trình bày theo chủ đề lớn cùng với trích dẫn nhật kí minh họa. Kết quả: Khu cách li tập trung được tổ chức tốt với sự phối hợp của nhân viên y tế và quân đội và đã đáp ứng được nhu cầu tối thiểu của người cách li. Vấn đề sức khỏe tâm thần của cả người cách li và người phục vụ tại khu cách li chưa được chú ý đến. Kết luận: Biện pháp cách li tập trung tại Việt Nam đã được chính phủ và các ban ngành quan tâm và đáp ứng được yêu cầu cách li đảm bảo an toàn trong đại dịch Covid-19. Khuyến nghị tăng cường thêm người phục vụ cách li đặc biệt trong thời gian đầu cách li từ lúc tiếp nhận và trong ngày cách li đầu tiên nhằm giảm bớt áp lực công việc của người phục vụ và đáp ứng tốt hơn nhu cầu tối thiểu cho người ở cách li. Dịch vụ tư vấn chăm sóc tâm lý cho người cách li và phục vụ cách li là cần thiết.
Mục tiêu : Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá kiến thức sơ cứu (SC) và xác định một số yếu tố liên quan của người dân tại phường Tân Quang, thành phố Tuyên Quang năm 2019. Phương pháp nghiên cứu : Sử dụng thiết kế nghiên cứu cắt ngang có so sánh với cỡ mẫu cho xác định/ước lượng một tỷ lệ, 422 đối tượng được ngẫu nhiên chọn tham gia nghiên cứu với các tiêu chí: trên 18 tuổi, có đủ sức khỏe, và có hộ khẩu đăng ký thường trú tại phường Tân Quang, thành phố Tuyên Quang. Kết quả : tỷ lệ người dân biết đến bỏng nhiệt chiếm nhiều nhất (94,3%), tiếp đến bỏng điện, bỏng hóa chất và bỏng lạnh với tỷ lệ lần lượt là 76,1%; 65,9% và 30,3%. Có 22,7% người dân từng thực hiện SC khi bị bỏng. Đa số người dân biết cách SC khi bị bỏng nước sôi đó là: ngâm nước mát (80,6%), thời gian ngâm rửa 15 đến 30 phút (41,9%), che phủ vết thương bằng khăn sạch, bông y tế (95,3%). Có tới 98,1% người dân trả lời sai về chất bôi khi bị bỏng nước sôi. Kiến thức đúng trong xử trí khi vết bỏng xuất hiện nốt phồng rộp là 68,5%, khi có vật dính là 82,7%, khi không có vật dính là 33,6%. Nhóm đối tượng có điểm kiến thức trung bình là 5,63 điểm (từ 2 – 9 điểm). Một số yếu tố liên quan đến kiến thức SC khi bị bỏng nước sôi của người dân: tuổi, giới, nghề nghiệp, trình độ học vấn, nơi sống. Khuyến nghị : Từ kết quả nghiên cứu cần nâng cao công tác truyền thông nâng cao kiến thức SC khi bị bỏng cho người dân lồng ghép vào các buổi họp tổ dân phố đặc biệt là các đối tượng là nữ giới, có độ tuổi từ 18-30 tuổi, những đối tượng là nông dân và đang sinh sống tại nhà.
Mục tiêu: Xác định chi phí đầy đủ của điều trị nội trú bệnh viêm tiểu phế quản tại bệnh viện Nhi Đồng 1 TPHCM năm 2019. Phương pháp nghiên cứu : Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 254 bệnh nhi viêm tiểu phế quản điều trị nội trú tại khoa Hô hấp bệnh viện Nhi đồng 1. Kết quả : Tổng chi phí đầy đủ trung bình cho 1 đợt điều trị nội trú viêm tiểu phế quản là 4.967.049 đồng, trung bình cho một ngày điều trị là 904.090 đồng, trong đó chi phí trực tiếp chiếm tỷ trọng chính, 95,56% (863.937/ngày/bệnh nhân), chi phí gián tiếp chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ 4,44% (40.153/ngày/bệnh nhân). Trong thành phần chi phí trực tiếp, chi phí y tế (viện phí) trung bình một ngày là 483.410 đồng, chi phí tiền giường chiếm tỷ lệ cao nhất (37,5, kế đến là chi phí xét nghiệm (18,5%) và thuốc (16,6%). Chi phí trực tiếp khác là 380.527/ngày, trong đó chi phí cho nhân lực y tế chiếm đa số. Chi phí y tế trực tiếp, viện phí, bệnh viện thu về từ 1 ca điều trị nội trú bệnh viêm tiểu phế quản hiện nay bằng 53,5% chi phí mà bệnh viện chi bỏ ra khi tính theo 8 cấu phần chi phí. Kết luận: Tổng chi phí đầy đủ trung bình cho một đợt điều trị nội trú viêm tiểu phế quản tại khoa Hô hấp BVNĐ1 là 4.967.049 đồng. Chi phí giường bệnh chiếm tỷ lệ cao nhất trong viện phí (37,5%). Do vậy, cần tăng cường xây dựng và kết hợp nhiều giải pháp nhằm giảm thời gian nằm viện, từ đó giảm chi phí điều trị. Trung bình một ca điều trị nội trú bệnh viêm tiểu phế quản số thu viện phí hiện nay bằng 53,5% tổng số chi nếu tính đủ 8 yếu tố cấu thành của chi phí. Thời gian tới, khi Bệnh viện tự chủ hoàn toàn về tài chính, cơ cấu giá dịch vụ y tế nên được tính đủ 8 cấu phần.
Mục tiêu: Nghiên cứu những giải pháp cơ bản và cấp bách về chăm sóc sức khoẻ đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta được tiến hành với 6.962 người dân tộc thiểu số thuộc 4 vùng kinh tế xã hội. Mục tiêu nghiên cứu nhằm mô tả tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế của 11 dân tộc trên. Phương pháp: Thiết kế cắt ngang, sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp với bộ câu hỏi cấu trúc. Kết quả : Kết quả cho thấy tỷ lệ đồng bào dân tộc có bảo hiểm y tế là 95,3%. Trong đó, vẫn còn tỷ lệ nhất định đồng bào dân tộc chưa có thẻ bảo hiểm: dân tộc Dao, Mnông, và Chăm với tỷ lệ tương ứng 7,4%, 14,3% và 14,5%. Khuyến nghị: Cơ quan bảo hiểm xã hội cần tuyên truyền sâu và rộng hơn cho đồng bào dân tộc về Luật bảo hiểm y tế, tầm quan trọng của bảo hiểm y tế. Các trưởng thôn, bản cần thể hiện trách nhiệm hơn trong công tác nắm bắt thông tin nhân khẩu và giao nhận thẻ bảo hiểm y tế.
Mục tiêu : Mô tả kiến thức, thực hành của người bán thuốc (NBT) về bán thuốc kháng sinh (KS) và phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến thực hành bán thuốc KS của NBT. Phương pháp : Nghiên cứu cắt ngang mô tả, kết hợp nghiên cứu định lượng (phỏng vấn 80 NBT của 63 cơ sở bán thuốc tư nhân) và định tính (phỏng vấn sâu 06 NBT và 02 cán bộ quản lý). Kết quả : 67,5% NBT có kiến thức cơ bản về KS và bán KS. NBT còn thiếu kiến thức về các nội dung: hậu quả của bán kháng sinh không đơn (KSKĐ) và thời hạn của đơn thuốc. Chỉ có 5% NBT thực hành đúng bán thuốc KS. Tỷ lệ NBT bán KSKĐ là 93,7%. Một số yếu tố ảnh hưởng tới hành vi bán KSKĐ bao gồm: thói quen và kiến thức hạn chế của khách hàng; kiến thức không đầy đủ và sự chủ quan của NBT; lợi ích kinh tế và tính cạnh tranh của các cơ sở bán lẻ; công tác quản lý giám sát còn chưa sát sao và chế tài xử phạt còn nhẹ. Kết luận : Bán thuốc KSKĐ rất phổ biến tại các cơ sở bán lẻ thuốc. Kiến thức của NBT về quy định bán KS theo đơn và hậu quả của bán KSKĐ; kiến thức của người dân về sử dụng KS; các biện pháp kiểm tra giám sát và chế tài xử phạt đối với hành vi bán thuốc KSKĐ là những yếu tố ảnh hưởng cần được cải thiện để giảm thiểu thực trạng này.
Mục tiêu: Nghiên cứu được thực hiện nhằm mô tả thực trạng nhiễm giun truyền qua đất năm 2017 và xác định các yếu tố liên quan ở trẻ từ 24 đến 59 tháng tuổi tại huyện Mù Cang Chải và Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái. Phương pháp: nghiên cứu sử dụng thiết kế cắt ngang. Đối tượng nghiên cứu là 247 trẻ 24-59 tháng tuổi tại và mẹ của trẻ tại 4 xã thuộc huyện Trạm Tấu và Mù Cang Chải. Kết quả: Tỷ lệ nhiễm giun chung của trẻ là 47,4%, trong đó gần một nửa là đa nhiễm giun. Các yếu tố liên quan đến tình trạng nhiễm giun bao gồm trẻ được tẩy giun, điều kiện kinh tế hộ gia đình, điều kiện vệ sinh hộ gia đình và thực hành chăm sóc trẻ của bà mẹ. Kết luận: Tỷ lệ nhiễm giun của trẻ ở địa bàn nghiên cứu là cao. Cần đẩy mạnh công tác truyền thông về phòng chống nhiễm giun, giám sát tình trạng uống thuốc tẩy giun và tiến hành rà soát, cải thiện công trình vệ sinh trên địa bàn nghiên cứu.
Mục tiêu: Nghiên cứu nằm trong khuôn khổ đề tài “Những giải pháp cơ bản và cấp bách về chăm sóc sức khỏe đồng bào dân tộc thiểu số nước ta hiện nay” với 2 mục tiêu sau: 1/ Mô tả một số chính sách về nhân lực y tế cho đồng bào dân tộc thiểu số và 2/ phân tích một số yếu tố ảnh hưởng tới việc thực hiện các chính sách này tại Việt Nam. Phương pháp nghiên cứu : Tổng quan một số chính sách về nhân lực y tế cho đồng bào dân tộc thiểu số và các nghiên cứu đánh giá nhân lực y tế có liên quan. Kết quả : Chưa có nhiều chính sách đặc thù về nhân lực y tế cho đồng bào dân tộc thiểu số tại Việt Nam. Tuy nhiên các chính sách nhân lực y tế tại Việt Nam đều được xây dựng chú trọng tới việc đảm bảo nguồn nhân lực y tế, đặc biệt tại các khu vực vùng sâu vùng xa, trong đó có đồng bào dân tộc thiểu số nhằm đảm bảo đủ số lượng, chất lượng và động lực làm việc. Nghiên cứu cũng tiến hành phân tích một số yếu tố ảnh hưởng tới việc thực hiện chính sách, bao gồm nội dung chính sách, năng lực của cơ sở y tế và khả năng hỗ trợ thực hiện chính sách của địa phương.
Mục tiêu: Phân tích gộp được tiến hành nhằm phân tích mối liên quan giữa tình trạng kinh tế-xã hội (trình độ học vấn và tình trạng kinh tế) với tuân thủ điều trị ARV ở BN (BN) HIV tại các nước đang phát triển. Phương pháp: Nghiên cứu đã tiến hành tìm kiếm và trích xuất các tài liệu thiết kế nghiên cứu dịch tễ học đề cập đến các yếu tố trình độ học vấn và sự nghèo đói lên biến số đầu ra chính là tuân thủ điều trị ARV giai đoạn 2009 – 2019. Kết quả: Tổng số có 44 nghiên cứu được đưa vào trích xuất thông tin. Tỷ lệ tuân thủ điều trị ARV của BN HIV ở các nước đang phát triển là 67,9% (CI95%: 63,0%-72,8%). Những đối tượng hoàn thành bậc học từ trung học cơ sở trở lên (OR = 1,53; 95%CI: 1,41 – 1,68) và tình trạng kinh tế hộ gia đình trên mức nghèo (OR = 1,25; 95%CI: 1,15 – 1,36) cũng tuân thủ điều trị ARV tốt hơn. Kết luận và khuyến nghị: Cần chú trọng hơn trong việc hỗ trợ với các BN có trình độ học vấn dưới trung học cơ sở và/hoặc có điều kiện kinh tế ở mức nghèo để tăng cường tuân thủ điều trị ARV ở nhóm BN HIV/AIDS
Mục tiêu : Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của người bệnh tim mạch trước phẫu thuật tại khoa phẫu thuật Tim mạch và lồng ngực bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức năm 2018. Mô tả một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của người bệnh tim mạch trước phẫu thuật tại khoa phẫu thuật Tim mạch và lồng ngực bệnh viện Hữu nghị Việt Đức năm 2018. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu : Nghiên cứu mô tả cắt ngang, sử dụng phương pháp BMI (Body Mass Index - chỉ số khối cơ thể), SGA (Subjective Globan Assessment - phương pháp đánh giá tổng thể chủ quan) và xét nghiệm Albumin và Prealbumin trên 110 người bệnh tim mạch trước phẫu thuật tại khoa Phẫu thuật Tim mạch và lồng ngực bệnh viện Việt Đức từ tháng 3 đến tháng 7 năm 2018. Kết quả : Tỷ lệ người bệnh suy dinh dưỡng (SDD) trường diễn theo chỉ số khối cơ thể (BMI) dưới 18,5kg/m 2 là 20%, SDD theo Albumin, Prealbumin lần lượt là 21,8%; 43,6%; SDD theo phương pháp đánh giá tổng thể chủ quan (SGA) là 45,5%. Người bệnh trong lứa tuổi 18-39 có nguy cơ SDD cao gấp 3,66 lần so với lứa tuổi 40-59 theo phương pháp đánh giá BMI; nam giới có nguy cơ SDD cao gấp 2,54 lần so với nữ giới theo phương pháp đánh giá SGA. Kết luận và khuyến nghị : Người bệnh tim mạch trước phẫu thuật cần được đánh giá tình trạng dinh dưỡng một cách toàn diện kết hợp giữa các phương pháp nhân trắc, lâm sàng và sinh hóa để đưa ra chỉ định và can thiệp dinh dưỡng cho người bệnh một cách kịp thời và hiệu quả.
Mục tiêu: Đánh giá sự thay đổi kiến thức, thái độ, thực hành của nhân viên y tế (NVYT) về rối loạn tự kỷ (RLTK) ở trẻ sau một năm triển khai chương trình truyền thông về RLTK ở trẻ em tại cộng đồng (từ tháng 1/2018 đến tháng 1/2019) tại hai tỉnh Hòa Bình và Thái Bình. Phương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu can thiệp so sánh trước sau không có nhóm chứng, với cỡ mẫu 300 và 295 NVYT ở ba tuyến (xã, huyện và tỉnh) tương ứng với thời điểm trước can thiệp (TCT) và sau can thiệp (SCT) được lựa chọn bằng phương pháp chọn mẫu nhiều giai đoạn. Kết quả: Về kiến thức, trong tổng số 14 câu hỏi, 13 câu có tỷ lệ trả lời đúng SCT cao hơn TCT (OR từ 1,17 - 4,73), trong đó sự thay đổi có ý nghĩa thống kê ở 5 câu về dấu hiệu cờ đỏ và 3 câu về sai lầm trong điều trị RLTK. Với 5 câu hỏi (tổng là 25 điểm) đánh giá thái độ, điểm trung vị SCT là 17, cao hơn 1 điểm so với TCT (p<0,05). Không có sự thay đổi có ý nghĩa thống kê về thực hành khi nghi ngở trẻ mắc RLTK của NVYT trước và sau can thiệp (p>0,05). Kết luận: Chương trình can thiệp giúp nâng cao kiến thức và thái độ của NVYT về RLTK ở trẻ. Cần tiếp tục duy trì chương trình để thấy được sự thay đổi về thực hành của NVYT.
Mục tiêu: Mô tả thời gian chờ khám của bệnh nhân (BN) đến khám bệnh tại khoa Khám bệnh của Bệnh viện đa khoa quận Thốt Nốt, Cần Thơ năm 2019 và phân tích một số yếu tố ảnh hưởng. Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang, kết hợp nghiên cứu định tính. Nghiên cứu định lượng đo lường toàn bộ thời gian quy trình khám bệnh (QTKB) (Trong đó có thời gian được khám và thời gian chờ) của 137 BN đến khám chữa bệnh tại khoa Khám của Bệnh viện đa khoa quận Thốt Nốt. Kết quả: Thời gian chờ khám trung bình của BN là 67,9 (27,2) phút. Thời gian chờ khám trung bình với lâm sàng (LS) đơn thuần là 52,8 (19,4) phút; khi có thực hiện cận lâm sàng (CLS), thời gian chờ khám trung bình từ 87,8 (19,9) phút đến 94,8 (13,4) phút. BN khám BHYT có thời gian chờ khám trung bình là 67,6 (27,7) phút, thấp hơn so với BN không có BHYT (71,5 (19,7) phút). Thời gian từ lúc xếp hàng bốc số thứ tự khám cho đến khi ra về trung bình là 126,3 (66,7) phút. Trong tất cả các trường hợp, thời gian khám bệnh trong nghiên cứu của chúng tôi tại BVĐK quận Thốt Nốt chưa đạt được chỉ tiêu do Bộ Y tế đề ra (tiêu chí A1.3). Các yếu tố ảnh hưởng đến thời gian chờ của BN là thiếu bác sĩ, thiếu phòng siêu âm, các phòng khám bệnh trong QTKB chưa liên hoàn, BN có nhu cầu cần được tư vấn và việc áp dụng công nghệ thông tin còn hạn chế. Kết luận và khuyến nghị: Thời gian chờ khám trung bình và thời gian khám bệnh của BN cần đảm bảo theo yêu cầu của Bộ Y tế. Để tiếp tục nâng cao dịch vụ, bệnh viện có thể cho BN đặt lịch và giờ đăng ký khám bệnh qua điện thoại và qua trang web; triển khai thêm một phòng siêu âm gần khu vực khoa Cấp cứu, lắp đặt bảng số điện tử tại các phòng của khoa Khám bệnh, khoa CLS và khoa Dược. Đối với khoa Xét nghiệm cần trang bị hệ thống nhận mẫu và trả kết quả tự động hóa.
Mục tiêu: mô tả thực trạng NLYT và một số kết quả của chính sách NLYT đến tình hình sức khỏe của đồng bào DTTS Phương pháp: Thiết kế nghiên cứu bàn giấy (desk-study với cách tiếp cận tổng hợp, tập trung rà soát, phân tích các báo cáo sẵn có và các chính sách liên quan tới nhân lực y tế (NLYT) Việt Nam cho đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS). Kết quả: Kết quả nghiên cứu qua tổng quan tài liệu kết hợp với số liệu từ các báo cáo về chỉ số sức khỏe giai đoạn 2013-2018 đến nay cũng đã chỉ thấy số lượng NLYT tăng dần qua các năm và các chỉ số sức khoẻ của người dân cũng được cải thiện. Mặc dù vậy, NLYT còn mất cân đối cả về số lượng và chất lượng, sự bất công bằng trong chăm sóc y tế của đồng bào DTTS so với người dân nói chung vẫn còn tồn tại. Khuyến nghị: Để có thể thu hút, duy trì NLYT tại các vùng sâu vùng xa, vùng DTTS đối với Chính phủ và Bộ Y tế cần đưa ra các chính sách NLYT đặc thù cho chăm sóc DTTS; Đối với y tế địa phương cần chủ động trong tham mưu xây dựng chính sách NLYT tại địa phương; Thực hiện phối hợp liên ngành trong triển khai chính sách; Tăng cường giám sát, đánh giá việc triển khai chính sách tại địa phương để có những khuyến nghị, giải pháp phù hợp trong giai đoạn tiếp theo.
Mục tiêu: Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục tiêu mô tả động lực làm việc của điều dưỡng lâm sàng và phân tích một số yếu tố ảnh hưởng tại Viện Y dược học dân tộc, thành phố Hồ Chí Minh năm 2019. Phương pháp nghiên cứu : Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính. Nghiên cứu định lượng được thực hiện qua phát vấn 86 Điều dưỡng lâm sàng. Nghiên cứu định tính được thu thập qua 10 cuộc phỏng vấn sâu và 2 cuộc thảo luận nhóm với đại diện lãnh đạo, đại diện các khoa/phòng. Kết quả : Điểm trung bình động lực làm việc của điều dưỡng lâm sàng tại Viện Y dược học dân tộc, thành phố Hồ Chí Minh năm 2019 tương đối thấp là 3,72/5 điểm, tỷ lệ điều dưỡng lâm sàng có động lực là 76,7%. Tỷ lệ yếu tố cam kết và sự tận tâm với công việc có động lực ở mức cao (86% và 94,2%). Tỷ lệ hài lòng với công việc có động lực rất thấp (40,7%). Một số yếu tố có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với động lực làm việc chung là yếu tố người thu nhập chính, yếu tố thu nhập (p <0,05). Cần thực hiện các giải pháp cải thiện điều kiện làm việc cũng như sắp xếp công việc của điều dưỡng lâm sàng tại một số khoa phòng sao cho phù hợp với nhu cầu và năng lực của họ, chi trả, tạo cơ hội thăng tiến để giúp cải thiện động lực làm việc của điều dưỡng lâm sàng.